CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
(Trích Truyền kì mạn lục)
Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương, tính đã thuỳ mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp. Trong làng có chàng Trương Sinh, mến vì dung hạnh, xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về. Song Trương có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức. Nàng cũng giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hoà. Cuộc sum vầy chưa được bao lâu thì xảy ra việc triều đình bắt lính đi đánh giặc Chiêm. Trương tuy con nhà hào phú nhưng không có học, nên tên phải ghi trong sổ lính đi vào loại đầu. Buổi ra đi mẹ chàng có dặn rằng:
– Nay con phải tạm ra tòng quân, xa lìa dưới gối. Tuy hội công danh từ xưa ít gặp, nhưng trong chỗ binh cách phải biết giữ mình làm trọng, gặp khó nên lui, lường sức mà tiến, đừng nên tham miếng mồi thơm để lỡ mắc vào cạm bẫy. Quan cao tước lớn nhường để người ta. Có như thế, mẹ ở nhà mới khỏi lo lắng vì con được.
Chàng quỳ xuống đất vâng lời dạy. Nàng rót chén rượu đầy tiễn chồng mà rằng:
- Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi. Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường. Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có, mà mùa dưa chín quá kì, khiến cho tiện thiếp băn khoăn, mẹ hiền lo lắng. Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình, thương người đất thú! Dù có thư tín nghìn hàng, cũng sợ không có cánh hồng bay bổng.
Nàng nói đến đây, mọi người đều ứa hai hàng lệ. Rồi đó, tiệc tiễn vừa tàn, áo chàng đành rứt. Ngước mắt cảnh vật vẫn còn như cũ, mà lòng người đã nhuộm mối tình muôn dặm quan san!
Bấy giờ, nàng đương có mang, sau khi xa chồng vừa đầy tuần thì sinh ra một đứa con trai, đặt tên là Đản. Ngày qua tháng lại, thoắt đã nửa năm, mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi, thì nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào ngăn được. Bà mẹ cũng vì nhớ con mà dần sinh ốm. Nàng hết sức thuốc thang lễ bái thần phật và lấy lời ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn. Song bệnh tình mỗi ngày một trầm trọng, bà biết không sống được, bèn trối lại với nàng rằng:
– Ngắn dài có số, tươi héo bởi trời. Mẹ không phải không muốn đợi chồng con về, mà không gắng ăn miếng cơm miếng cháo đặng cùng vui sum họp. Song, lòng tham vô cùng mà vận trời khó tránh. Nước hết chuông rền, số cùng khí kiệt. Một tấm thân tàn, nguy trong sớm tối, việc sống chết không khỏi phiền đến con. Chồng con nơi xa xôi chưa biết sống chết thế nào, không thể về đền ơn được. Sau này, trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ.
Bà cụ nói xong thì mất. Nàng hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ, lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình.
Qua năm sau, giặc ngoan cố đã chịu trói, việc quân kết thúc. Trương Sinh về tới nhà, được biết mẹ đã qua đời, con vừa học nói. Chàng hỏi mồ mẹ, rồi bế đứa con nhỏ đi thăm; đứa trẻ không chịu, ra đến đồng, nó quấy khóc. Sinh dỗ dành:
– Nín đi con, đừng khóc. Cha về, bà đã mất, lòng cha buồn khổ lắm rồi.
Đứa con ngây thơ nói:
– Ô hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít.
Chàng ngạc nhiên gạn hỏi. Đứa con nhỏ nói:
– Trước đây, thường có một người đàn ông, đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi, nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả.
Tính chàng hay ghen, nghe con nói vậy, đinh ninh là vợ hư, mối nghi ngờ ngày càng sâu, không có gì gỡ ra được.
Về đến nhà, chàng la um lên cho hả giận. Vợ chàng khóc mà rằng:
– Thiếp vốn con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu. Sum họp chưa thoả tình chăn gối, chia phôi vì động việc lửa binh. Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót. Đâu có sự mất nết hư thân như lời chàng nói. Dám xin bày tỏ để cởi mối nghi ngờ. Mong chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp.
Chàng vẫn không tin. Nhưng nàng hỏi chuyện kia do ai nói ra, thì lại giấu không kể lời con nói; chỉ lấy chuyện bóng gió này nọ mà mắng nhiếc nàng, và đánh đuổi đi. Họ hàng làng xóm bênh vực và biện bạch cho nàng, cũng chẳng ăn thua gì cả. Nàng bất đắc dĩ nói:
– Thiếp sở dĩ nương tựa vào chàng vì có cái thú vui nghi gia nghi thất. Nay đã bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió; khóc tuyết bông hoa rụng cuống, kêu xuân cái én lìa đàn, nước thẳm buồm xa, đâu còn có thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa.
Đoạn rồi nàng tắm gội chay sạch, ra bến Hoàng Giang ngửa mặt lên trời mà than rằng:
- Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám. Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương xuống đất xin làm cỏ Ngu mĩ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ, và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ.
Nói xong nàng gieo mình xuống sông mà chết. Chàng tuy giận là nàng thất tiết, nhưng thấy nàng tự tận cũng động lòng thương, tìm vớt thấy nàng, nhưng chẳng thấy tăm hơi đâu cả. Một đêm phòng không vắng vẻ, chàng ngồi buồn dưới ngọn đèn khuya, chợt đứa con nói rằng:
– Cha Đản lại đến kia kìa!
Chàng hỏi đâu. Nó chỉ bóng chàng ở trên vách:
– Đây này!
Thì ra, ngày thường, ở một mình, nàng hay đùa con, trỏ bóng mình mà bảo là cha Đản. Bấy giờ chàng mới tỉnh ngộ, thấu nỗi oan của vợ, nhưng việc trót đã qua rồi!
Cùng làng với nàng, có người tên là Phan Lang, khi trước làm đầu mục ở bến đò Hoàng Giang, một đêm chiêm bao thấy người con gái áo xanh đến kêu xin tha mạng. Sáng dậy, Phan Lang thấy có người phường chài đem vào biểu một con rùa mai xanh, sực nghĩ đến chuyện mộng, bèn đem thả con rùa ấy. Cuối đời Khai Đại nhà Hồ, quân Minh mượn tiếng đưa Trần Thiêm Bình về nước, phạm vào cửa ải Chi Lăng, nhân dân trong nước, nhiều người sợ hãi phải chạy trốn ra ngoài bể, không may đắm thuyền đều chết đuối cả. Thây Phan Lang dạt vào một cái động rùa ở hải đảo, có người đàn bà là Linh Phi trông thấy nói rằng:
– Đây là vị ân nhân cứu sống ta thuở xưa.
Linh Phi bèn lấy khăn dấu mà lau, lấy thuốc thần mà đổ, một chốc Phan Lang liền tỉnh lại. Phan trông thấy cung gấm đền dao thật nguy nga lộng lẫy, mà chưa biết mình đã lọt vào cung nước của rùa thần. Linh Phi bấy giờ mình mặc áo gấm dát ngọc, chân đi giày có vân nạm vàng, cười bảo Phan Lang rằng:
– Tôi là Linh Phi trong động rùa, vợ vua biển Nam Hải, nhớ hồi còn nhỏ đi chơi ở bến sông bị người phường chài bắt được, ngẫu nhiên báo mộng, quả được nhờ ơn. Gặp gỡ ngày nay, há chẳng phải lòng trời xui khiến cho tôi có dịp đền ơn trả nghĩa?
Phi bèn đặt yến ở gác Triêu Dương để thết đãi Phan Lang. Dự tiệc hôm ấy có vô số những mĩ nhân, quần áo thướt tha, mái tóc búi xễ. Trong số đó, có một người mặt chỉ hơi điểm qua một chút son phấn trông rất giống Vũ Nương. Phan có ý nhìn trộm, nhưng không dám nhận. Tiệc xong, người đàn bà ấy nói với Phan Lang rằng:
– Tôi với ông vốn người cùng làng, cách mặt chưa bao, đã quên nhau rồi ư? Bấy giờ Phan mới nhận đích người ấy là Vũ Nương và gạn hỏi duyên cớ. Nàng nói:
– Tôi ngày trước không may bị người vu oan, phải gieo mình xuống sông tự tử. Các nàng tiên trong cung nước thương tôi vô tội, rẽ một đường nước cho tôi thoát chết, nếu không thì đã vùi vào bụng cá, còn đâu mà gặp ông.
Phan nói:
- Nương tử nghĩa khác Tào Nga, hờn không Tinh Vệ mà phải ôm mối hận gieo mình xuống nước. Nay thóc cũ không còn, thóc mới vừa gặt, há lại không tưởng nhớ đến quê hương ư?
Vũ Nương nói:
– Tôi bị chồng ruồng rẫy, thà già ở chốn làng mây cung nước, chứ còn mặt mũi nào về nhìn thấy người ta nữa!
Phan nói:
– Nhà cửa tiên nhân của nương tử, cây cối thành rừng, phần mộ tiên nhân của nương tử, cỏ gai rợp mắt. Nương tử dù không nghĩ đến, nhưng tiên nhân còn mong đợi nương tử thì sao?
Nghe đến đấy, Vũ Nương ứa nước mắt khóc, rồi quả quyết đổi giọng mà rằng:
– Có lẽ không thể gửi hình ẩn bóng ở đây được mãi, để mang tiếng xấu xa. Vả chăng, ngựa Hồ gầm gió bắc, chim Việt đậu cành nam. Cảm vì nỗi ấy, tôi tất phải tìm về có ngày.
Hôm sau, Linh Phi lấy một cái túi bằng lụa tía, đựng mười hạt minh châu, sai sứ giả Xích Hỗn đưa Phan ra khỏi nước. Vũ Nương nhân đó cũng đưa gửi một chiếc hoa vàng mà dặn:
– Nhờ nói hộ với chàng Trương, nếu còn nhớ chút tình xưa nghĩa cũ, xin lập một đàn giải oan ở bến sông, đốt cây đèn thần chiếu xuống nước, tôi sẽ trở về.
Lúc đến nhà, Phan đem chuyện kể lại với họ Trương. Ban đầu Trương không tin. Nhưng khi nhận được chiếc hoa vàng, chàng mới sợ hãi mà nói:
– Đây quả là vật dùng mà vợ tôi mang lúc ra đi.
Chàng bèn theo lời, lập một đàn tràng ba ngày đêm ở bến Hoàng Giang. Rồi quả thấy Vũ Nương ngồi trên một chiếc kiệu hoa đứng ở giữa dòng, theo sau có đến năm mươi chiếc xe cờ tán, võng lọng, rực rỡ đầy sông, lúc ẩn, lúc hiện.
Chàng vội gọi, nàng vẫn ở giữa dòng mà nói vọng vào:
– Thiếp cảm ơn đức của Linh Phi, đã thề sống chết cũng không bỏ. Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa.
Rồi trong chốc lát, bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi mất.
Lời bình
Than ôi! Những việc từa tựa như nhau, thật là khó tỏ mà dễ hoặc. Cho nên quăng thoi đứng dậy, tuy mẹ bậc đại hiền cũng phải phân vân, mất búa đổ ngờ, tuy con người láng giềng cũng khó chối cãi, ý dĩ đầy xe, Quang Võ đổ ngờ lão tướng, trói lại mà giết, Tào Tháo đến phụ ân nhân, việc thị Thiết cũng giống như vậy. Nếu không được trời xét tâm thành, nước không làm hại, thì xương hoa vóc ngọc, đã chôn vào họng cá ở dưới lòng sông, còn đâu được lại thông tin tức để nết trinh thuần được nhất nhất bộc bạch ra hết. Làm người đàn ông, tưởng đừng nên để cho giai nhân oan uổng thế này.
(Nguyễn Dữ, Truyền kì mạn lục, Trúc Khê Ngô Văn Triện dịch, theo Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục, 2008, tr. 43 – 48)
Giới thiệu tác giả Nguyễn Dữ và tác phẩm "Chuyện người con gái Nam Xương"
I. Giới thiệu tác giả Nguyễn Dữ
1. Tiểu sử tác giả Nguyễn Dữ
Nguyễn Dữ là một trong những nhà văn nổi tiếng của nền văn học trung đại Việt Nam thế kỷ XVI. Ông quê ở làng Đỗ Tùng, huyện Trường Tân (nay thuộc huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương). Nguyễn Dữ xuất thân trong một gia đình khoa bảng, cha ông là Nguyễn Tường Phiêu từng đỗ tiến sĩ dưới triều vua Lê Thánh Tông.
Sống trong giai đoạn xã hội phong kiến đầy biến động, chiến tranh liên miên, triều đình suy thoái, Nguyễn Dữ tuy có thời gian ra làm quan nhưng không lâu. Sau đó, ông lui về ở ẩn, chuyên tâm nghiên cứu và sáng tác văn chương.
Nguyễn Dữ được xem là một trong những cây bút văn xuôi xuất sắc nhất của văn học trung đại Việt Nam. Ông được mệnh danh là "Thiên cổ kỳ bút" (ngòi bút kỳ diệu muôn đời) nhờ tài năng sáng tạo và những giá trị nhân văn sâu sắc trong các tác phẩm của mình.
2. Sự nghiệp sáng tác
Tác phẩm nổi tiếng nhất của Nguyễn Dữ là "Truyền kì mạn lục", được viết bằng chữ Hán. Đây là tập truyện truyền kỳ đặc sắc gồm 20 truyện, phản ánh hiện thực xã hội phong kiến Việt Nam thế kỷ XVI, đồng thời thể hiện niềm cảm thương đối với những con người nhỏ bé, đặc biệt là người phụ nữ.
Thông qua những yếu tố kỳ ảo, hoang đường, Nguyễn Dữ đã gửi gắm nhiều tư tưởng nhân đạo tiến bộ và những lời phê phán sâu sắc đối với xã hội phong kiến bất công đương thời.
3. Phong cách nghệ thuật
Nguyễn Dữ có phong cách sáng tác độc đáo với những đặc điểm nổi bật:
- Kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố hiện thực và yếu tố kỳ ảo.
- Cốt truyện hấp dẫn, giàu kịch tính.
- Xây dựng nhân vật có chiều sâu tâm lý.
- Ngôn ngữ trang trọng, giàu chất trữ tình.
- Đề cao phẩm chất tốt đẹp của con người, đặc biệt là người phụ nữ.
- Thể hiện tinh thần nhân đạo và tư tưởng phê phán xã hội sâu sắc.
II. Giới thiệu tác phẩm "Chuyện người con gái Nam Xương"
1. Xuất xứ tác phẩm
"Chuyện người con gái Nam Xương" là truyện thứ mười sáu trong tập "Truyền kì mạn lục" của Nguyễn Dữ.
Tác phẩm được viết bằng chữ Hán theo thể loại truyền kỳ, một loại truyện văn xuôi trung đại có sự kết hợp giữa hiện thực và yếu tố kỳ ảo, hoang đường.
Bản dịch hiện nay trong sách giáo khoa Ngữ văn được dịch bởi Trúc Khê Ngô Văn Triện.
2. Hoàn cảnh ra đời
Tác phẩm ra đời vào khoảng thế kỷ XVI, khi chế độ phong kiến Việt Nam đang trong thời kỳ khủng hoảng. Chiến tranh phong kiến kéo dài khiến đời sống nhân dân vô cùng cực khổ, đặc biệt là số phận của người phụ nữ phải chịu nhiều bất hạnh và oan khuất.
Thông qua câu chuyện về Vũ Nương, Nguyễn Dữ đã phản ánh hiện thực đau thương ấy và lên tiếng bênh vực quyền sống, quyền được hạnh phúc của con người.
3. Thể loại
- Truyện truyền kỳ.
- Văn xuôi tự sự trung đại.
- Viết bằng chữ Hán.
4. Phương thức biểu đạt
- Tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm.
5. Tóm tắt tác phẩm
Vũ Thị Thiết (Vũ Nương) là người phụ nữ xinh đẹp, hiền thục, nết na. Nàng kết hôn với Trương Sinh – một người giàu có nhưng ít học và rất đa nghi.
Ngày Trương Sinh đi lính, Vũ Nương ở nhà sinh con, phụng dưỡng mẹ chồng chu đáo. Khi mẹ chồng qua đời, nàng lo ma chay tận tình như với cha mẹ ruột.
Ba năm sau, Trương Sinh trở về. Do lời nói ngây thơ của con trai là bé Đản về một người cha đêm nào cũng đến nhưng không nói, Trương Sinh nghi ngờ vợ thất tiết. Mặc cho Vũ Nương hết lời thanh minh và hàng xóm biện bạch, chàng vẫn đánh đuổi nàng đi.
Quá đau khổ và tuyệt vọng, Vũ Nương gieo mình xuống sông Hoàng Giang tự vẫn để chứng minh sự trong sạch của mình.
Sau này, Trương Sinh mới hiểu ra rằng "người cha" mà bé Đản nhắc tới chính là chiếc bóng của Vũ Nương trên vách mỗi đêm nàng chỉ cho con xem để vơi nỗi nhớ cha.
Dưới thủy cung, nhờ được Linh Phi cứu giúp, Vũ Nương vẫn còn sống. Qua sự gặp gỡ với Phan Lang, nàng nhắn Trương Sinh lập đàn giải oan. Vũ Nương hiện về trên sông trong cảnh huy hoàng, nói lời từ biệt rồi biến mất mãi mãi.
6. Bố cục tác phẩm
Tác phẩm có thể chia thành ba phần:
Phần 1: Từ đầu đến "...lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình"
Giới thiệu Vũ Nương và cuộc sống của nàng khi Trương Sinh đi lính; nàng sinh con, chăm sóc mẹ chồng và lo tang lễ chu đáo.
Phần 2: Tiếp theo đến "...nhưng việc trót đã qua rồi"
Bi kịch oan khuất của Vũ Nương dẫn đến cái chết đau thương của nàng.
Phần 3: Phần còn lại
Câu chuyện kỳ ảo về Phan Lang gặp Vũ Nương ở thủy cung và cảnh nàng trở về giải oan trên sông Hoàng Giang.
III. Giá trị nội dung của tác phẩm
1. Ca ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam
Qua hình tượng Vũ Nương, Nguyễn Dữ đã ngợi ca những phẩm chất đáng quý của người phụ nữ truyền thống:
- Hiền hậu, nết na.
- Chung thủy với chồng.
- Yêu thương con cái.
- Hiếu thảo với mẹ chồng.
- Giàu lòng vị tha và đức hy sinh.
Dù bị chồng nghi oan và ruồng bỏ, Vũ Nương vẫn giữ trọn phẩm hạnh và không oán trách chồng.
2. Tố cáo xã hội phong kiến bất công
Tác phẩm phản ánh sâu sắc số phận bi thảm của người phụ nữ trong xã hội phong kiến:
- Không có quyền được bảo vệ.
- Bị ràng buộc bởi lễ giáo hà khắc.
- Cuộc sống và danh dự phụ thuộc hoàn toàn vào người chồng.
Đồng thời, tác phẩm cũng phê phán:
- Chiến tranh phong kiến phi nghĩa đã gây cảnh chia lìa.
- Tư tưởng trọng nam khinh nữ.
- Tính gia trưởng và sự hồ đồ, đa nghi của Trương Sinh.
3. Thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc
Nguyễn Dữ bày tỏ niềm thương cảm đối với những số phận bất hạnh, đồng thời khẳng định khát vọng:
- Được yêu thương.
- Được sống hạnh phúc.
- Được bảo vệ danh dự và nhân phẩm.
Tác giả lên tiếng đòi lại công bằng cho người phụ nữ và thể hiện niềm tin vào những giá trị tốt đẹp của con người.
IV. Giá trị nghệ thuật
"Chuyện người con gái Nam Xương" đạt được nhiều thành công nổi bật về nghệ thuật:
Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện độc đáo
Chi tiết chiếc bóng trên vách là nút thắt và cũng là chìa khóa mở ra toàn bộ bi kịch của câu chuyện. Đây là một sáng tạo đặc sắc, tạo nên sức hấp dẫn và giá trị nhân văn sâu sắc cho tác phẩm.
Nghệ thuật xây dựng nhân vật
Nhân vật Vũ Nương được khắc họa sinh động thông qua:
- Lời nói.
- Hành động.
- Tâm trạng.
- Các mối quan hệ với chồng, con và mẹ chồng.
Nhân vật Trương Sinh cũng được xây dựng chân thực với tính cách đa nghi, gia trưởng, nóng nảy.
Kết hợp giữa yếu tố hiện thực và kỳ ảo
Phần đầu tác phẩm mang tính hiện thực sâu sắc, phản ánh cuộc sống đời thường. Phần cuối sử dụng nhiều chi tiết kỳ ảo như thủy cung, Linh Phi, kiệu hoa giữa dòng sông…, tạo nên màu sắc truyền kỳ hấp dẫn.
Yếu tố kỳ ảo không làm mất đi tính chân thực mà còn góp phần thể hiện ước mơ công lý và khát vọng hạnh phúc của con người.
Ngôn ngữ giàu chất trữ tình
Tác phẩm có nhiều đoạn đối thoại và độc thoại đặc sắc, thể hiện rõ tâm trạng nhân vật, tạo nên sức lay động mạnh mẽ đối với người đọc.
V. Ý nghĩa của tác phẩm
"Chuyện người con gái Nam Xương" là tiếng nói nhân đạo sâu sắc của Nguyễn Dữ đối với số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Tác phẩm không chỉ ca ngợi vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam mà còn lên án những bất công, định kiến và thói ghen tuông mù quáng đã đẩy con người vào bi kịch đau thương.
Trải qua nhiều thế kỷ, câu chuyện về Vũ Nương vẫn còn nguyên giá trị bởi nó nhắc nhở con người về sự cảm thông, lòng tin, sự thấu hiểu trong tình yêu và hạnh phúc gia đình. Đồng thời, tác phẩm cũng khẳng định một chân lý rằng: sự nghi ngờ mù quáng và những định kiến vô căn cứ có thể hủy hoại cuộc đời của những con người lương thiện.
"Chuyện người con gái Nam Xương" xứng đáng là một trong những áng văn xuôi xuất sắc nhất của văn học trung đại Việt Nam, thể hiện tài năng và tấm lòng nhân đạo cao đẹp của nhà văn Nguyễn Dữ.
Soạn Bài: Mẫu Đơn.

Nhận xét
Đăng nhận xét