Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 Âm Lịch) và Thời Đại Các Vua Hùng

Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 Âm Lịch) và thời đại các Vua Hùng


“Dù ai đi ngược về xuôi

Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng mười tháng ba.”

Câu ca dao quen thuộc ấy đã đi sâu vào tâm thức của mỗi người dân Việt Nam, nhắc nhở về một ngày lễ thiêng liêng – Giỗ Tổ Hùng Vương. Đây không chỉ là một ngày hội truyền thống mà còn là dịp trọng đại mang tầm vóc quốc gia, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” – một giá trị tinh thần tốt đẹp của dân tộc ta. Vào ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch hằng năm, hàng triệu người Việt trên khắp mọi miền đất nước lại hướng về cội nguồn, tưởng nhớ công lao dựng nước của các vị vua đầu tiên.

Theo truyền thuyết dân gian, các Hùng Vương là hậu duệ của Lạc Long QuânÂu Cơ – những nhân vật gắn liền với nguồn gốc “con Rồng cháu Tiên” của dân tộc Việt Nam. Từ bọc trăm trứng kỳ diệu, một trăm người con ra đời, tượng trưng cho sự sinh sôi và phát triển của cộng đồng người Việt cổ.

Nhà nước đầu tiên của người Việt – nước Văn Lang – được hình thành vào thời kỳ này. Đứng đầu nhà nước là các vua Hùng, vừa là người lãnh đạo tối cao, vừa là người chỉ huy quân sự và chủ trì các nghi lễ tín ngưỡng. Dưới vua có các Lạc hầu, Lạc tướng giúp việc, còn trong dân gian có các Bố chính cai quản từng làng bản. Cả nước được chia thành 15 bộ, tạo nên một hệ thống tổ chức xã hội sơ khai nhưng tương đối chặt chẽ.

Kinh đô của nước Văn Lang được đặt tại vùng Phong Châu (nay thuộc tỉnh Phú Thọ). Đây được xem là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của quốc gia đầu tiên trong lịch sử dân tộc. Theo các thư tịch cổ như Đại Việt Sử ký Toàn thư, thời kỳ từ Kinh Dương Vương đến hết các vua Hùng kéo dài hàng nghìn năm, đánh dấu giai đoạn hình thành và phát triển ban đầu của quốc gia Việt cổ.

Về đời sống kinh tế, cư dân Văn Lang chủ yếu sinh sống bằng nghề trồng lúa nước – một nền văn minh nông nghiệp đặc trưng. Người dân đã biết sử dụng công cụ bằng đồng, sau đó tiến tới sử dụng sắt. Ngoài trồng trọt, họ còn chăn nuôi, săn bắt, đánh cá và phát triển các nghề thủ công như đúc đồng, làm gốm. Sự phân công lao động giữa nông nghiệp và thủ công nghiệp bước đầu hình thành, phản ánh sự phát triển của xã hội thời bấy giờ.

Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, thời đại Hùng Vương trải qua 18 đời vua, kéo dài từ khoảng năm 2879 trước Công nguyên đến năm 258 trước Công nguyên. Đến cuối thời kỳ này, nhà nước Văn Lang bị An Dương Vương (Thục Phán) thôn tính, mở ra một giai đoạn lịch sử mới của dân tộc.

Ngày nay, để tưởng nhớ công lao to lớn của các vua Hùng, người dân Việt Nam tổ chức lễ dâng hương tại Đền Hùng – khu di tích lịch sử đặc biệt nằm trên núi Nghĩa Lĩnh. Đây không chỉ là nơi linh thiêng mà còn là biểu tượng của truyền thống đoàn kết và lòng tự hào dân tộc. Mỗi dịp lễ hội, hàng triệu người dân từ khắp nơi lại hành hương về đây, thành kính tri ân tổ tiên.

Sinh thời, Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.” Lời dạy ấy không chỉ là sự kế thừa truyền thống mà còn là lời nhắc nhở về trách nhiệm của mỗi người Việt Nam trong việc bảo vệ và xây dựng đất nước.

Có thể nói, Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương không chỉ mang ý nghĩa lịch sử mà còn là biểu tượng thiêng liêng của tinh thần dân tộc. Đó là sợi dây gắn kết quá khứ với hiện tại, hun đúc lòng yêu nước và ý thức cội nguồn trong mỗi con người Việt Nam hôm nay và mai sau.


DANH SÁCH 18 VỊ VUA HÙNG

Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, tính từ thời Kinh Dương Vương (2879 TCN) cho đến hết thời Hùng Vương (năm 258 TCN) kéo dài 2.622 năm. Nhà nước Văn Lang tồn tại đến năm 258 TCN thì bị Thục Phán (tức An Dương Vương) thôn tính. Theo Nguyễn Khắc Thuần trong "Thế thứ các triều vua Việt Nam" thì 18 vị vua Hùng là:

1. Kinh Dương Vương, húy Lộc Tục, tức Lục Dục Vương, sinh năm Nhâm Ngọ (2919 TCN) lên ngôi năm 41 tuổi, ở ngôi tất cả 86 năm, từ năm Nhâm Tuất (2879 TCN) đến Đinh Hợi (2794 TCN).

2. Lạc Long Quân, húy Sùng Lãm, tức Hùng Hiền Vương, sinh năm Bính Thìn (2825 TCN), lên ngôi 33 tuổi, ở ngôi tất cả 269 năm, từ năm Mậu Tý (2793 TCN) đến năm Bính Thìn (2525 TCN).

3. Hùng Quốc Vương, húy Hùng Lân, sinh năm Canh Ngọ (2570 TCN) lên ngôi khi 18 tuổi, ở ngôi 272 năm, từ năm Đinh Tỵ (2524 TCN) đến 2253 TCN.

4. Hùng Hoa Vương, húy Bửu Lang, lên ngôi năm Đinh Hợi (2252 TCN), ở ngôi tất cả 342 năm, từ năm Đinh Hợi (2254 TCN) đến năm Mậu Thìn (1913TCN).

5. Hùng Hy Vương, húy Bảo Lang, sinh năm Tân Mùi (2030 TCN), lên ngôi khi năm 59 tuổi, ở ngôi tất cả 200 năm, từ năm Kỷ Tỵ (1912 TCN) đến Mậu Tý (1713 TCN).

6. Hùng Hồn Vương, húy Long Tiên Lang, sinh năm Tân Dậu (1740 TCN), lên ngôi khi 29 tuổi, ở ngôi tất cả 81 năm, từ năm Kỷ Sửu (1712 ) đến năm Kỷ Dậu (1632 TCN).

7. Hùng Chiêu Vương, húy Quốc Lang, sinh năm Quý Tỵ (1768 TCN), lên ngôi khi 18 tuổi, ở ngôi tất cả 200 năm, từ năm Canh Tuất (1631 TCN) đến năm Kỷ Tỵ (1432 TCN).

8. Hùng Vỹ Vương, húy Vân Lang, sinh năm Nhâm Thìn (1469 TCN) lên ngôi khi 39 tuổi, ở ngôi tất cả 100 năm, từ năm Canh Ngọ (1431 TCN) đến năm Kỷ Dậu (1332 TCN).

9. Hùng Định Vương, húy Chân Nhân Lang, sinh năm Bính Dần (1375 TCN), lên ngôi khi 45 tuổi, ở ngôi tất cả 80 năm, từ 1331 đến 1252 TCN.

10. Hùng Uy Vương, húy Hoàng Long Lang, trị vì 90 năm, từ 1251 đến 1162 TCN.

11. Hùng Trinh Vương, húy Hưng Đức Lang, sinh năm Canh Tuất (1211 TCN), lên ngôi khi 51 tuổi, ở ngôi tất cả 107 năm, từ năm Canh Tý (1161 TCN) đến năm Bính Tuất (1055 TCN).

12. Hùng Vũ Vương, húy Đức Hiền Lang, sinh năm Bính Thân (1105 TCN), lên ngôi khi năm 52 tuổi, ở ngôi tất cả 86 năm, từ năm Đinh Hợi (1054 TCN) đến năm Nhâm Tuất (969 TCN).

13. Hùng Việt Vương, húy Tuấn Lang, sinh năm Kỷ Hợi (982 TCN), lên ngôi khi 23 tuổi, ở ngôi tất cả 115 năm, từ năm Quý Hợi (968 TCN) đến Đinh Mùi (854 TCN).

14. Hùng Anh Vương, húy Viên Lang, sinh năm Đinh Mão (894 TCN) lên ngôi khi 42 tuổI, ở ngôi tất cả 99 năm, từ 853 đến 755 TCN.

15. Hùng Triệu Vương, húy Cảnh Chiêu Lang, sinh năm Quý Sửu (748 TCN), lên ngôi khi 35 tuổi, ở ngôi tất cả 94 năm, từ năm Đinh Hợi (754 TCN) đến năm Canh Thân (661 TCN).

16. Hùng Tạo Vương, húy Đức Quân Lang, sinh năm Kỷ Tỵ (712 TCN), ở ngôi tất cả 92 năm, từ năm Tân Dậu (660TCN) đến năm Nhâm Thìn (569 TCN).

17. Hùng Nghị Vương, húy Bảo Quang Lang, sinh năm Ất Dậu (576 TCN) lên ngôi khi 9 tuổi, ở ngôi tất cả 160 năm, từ năm Quý Tỵ (568 TCN) đến năm Nhâm Thân (409 TCN).

18. Hùng Duệ Vương, sinh năm Canh Thân (421 TCN), lên ngôi khi 14 tuổi, ở ngôi tất cả 150 năm, từ năm Quý Dậu (408 TCN) đến năm Quý Mão (258 TCN).

Hằng năm, người dân Việt Nam tổ chức ngày Giỗ Tổ để tri ân toàn bộ các vua Hùng đã có công dựng nước. Nhiều người dân sẽ dâng lễ, tham quan chiêm bái tại Đền Hùng - di tích lịch sử văn hóa đặc biệt quan trọng của quốc gia, được xây dựng trên núi Nghĩa Lĩnh (còn có tên gọi khác là núi Cả hay núi Hùng), tọa lạc tại xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Đây là dịp để người dân thể hiện lòng biết ơn đối với công lao của các bậc tiền nhân, đồng thời củng cố tinh thần đoàn kết và niềm tự hào dân tộc trong mỗi người Việt Nam./.

Tổng hợp. Mẫu Đơn

Nhận xét

Tìm Danh Mục Liên Quan

Hiện thêm