TRUYỆN CỔ TÍCH: EM BÉ THÔNG MINH
Truyện Cổ Tích Việt Nam
Ngày xưa, có một ông vua sai một viên quan đi dò la khắp nước tìm người tài giỏi. Viên quan ấy đã đi nhiều nơi, đến đâu ông cũng ra những câu đố oái oăm để hỏi mọi người, nhưng tuy mất nhiều công mà chưa thấy có người nào thật lỗi lạc.
Một hôm, viên quan đi qua một cánh đồng làng kia, chợt thấy bên vệ đường có hai cha con nhà nọ đang làm ruộng: cha đánh trâu cày, con đập đất. Ông bèn dừng ngựa lại hỏi:
– Này, lão kia! Trâu của lão cày một ngày được mấy đường?
Người cha đứng ngẩn người ra, chưa biết trả lời thế nào thì đứa con chừng bảy, tám tuổi nhanh miệng hỏi vặn lại quan rằng:
– Thế xin hỏi ông câu này đã. Nếu ông trả lời được ngựa của ông đi một ngày được mấy bước, tôi sẽ cho ông biết trâu của cha tôi cày một ngày được mấy đường.
Viên quan nghe nó hỏi lại như thế thì há hốc mồm sửng sốt, không biết đáp sao cho ổn. Ông thầm nghĩ, nhất định nhân tài ở đây rồi, chả phải tìm đâu mất công, bèn hỏi tên họ, làng xã, quê quán của hai cha con rồi phi ngựa một mạch về tâu vua.
Nghe nói, vua lấy làm mừng lắm. Nhưng để biết đích xác hơn nữa, vua sai thử lại. Vua sai ban cho làng ấy ba thúng gạo nếp với ba con trâu đực, ra lệnh phải nuôi làm sao cho ba con trâu ấy đẻ thành chín con, hẹn năm sau phải đem nộp đủ, nếu không thì cả làng phải tội.
Khi dân làng nhận được lệnh vua thì ai nấy đều tưng hửng và lo lắng, không hiểu thế là thế nào. Bao nhiêu cuộc họp làng, bao nhiêu lời bàn tán, vẫn không có cách gì giải quyết cả. Từ trên xuống dưới, mọi người đều tin là tai vạ. Việc đến tai em bé con nhà thợ cày. Em liền bảo cha:
– Chả mấy khi được lộc vua ban, bố cứ thưa với làng làm thịt hai trâu và đồ hai thúng gạo nếp để mọi người ăn một bữa cho sướng miệng. Còn một trâu và một thúng gạo, ta sẽ xin làng làm phí tổn cho bố con ta trẩy kinh lo việc đó.
– Đã ăn thì còn lo liệu thế nào? Đừng có làm dại mà mất đầu đó con ạ!
Nhưng đứa con quả quyết:
– Cha cứ mặc con lo liệu, thế nào cũng xong xuôi mọi việc.
Người cha vội ra đình trình bày câu chuyện. Cả làng nghe nói vẫn còn ngờ vực, bắt cha con phải làm giấy cam đoan mới dám ngả trâu đánh chén.
Sau đó mấy hôm, hai cha con khăn gói tìm đường tiến kinh. Đến hoàng cung, con bảo cha đứng ở ngoài, còn mình thì nhè lúc mấy tên lính canh vô ý, lẻn vào sân rồng khóc um lên. Vua sai lính điệu vào, phán hỏi:
– Thằng bé kia, có việc gì? Sao lại đến đây mà khóc?
– Tâu đức vua – em bé đáp – mẹ con chết sớm mà cha con thì không chịu đẻ em bé để chơi với con cho có bạn, cho nên con khóc. Dám mong đức vua phán bảo cha con cho con được nhờ.
Nghe nói, vua và các triều thần đều bật cười. Vua phán:
– Muốn có em thì phải kiếm vợ khác cho bố mày, chứ bố mày là giống đực, làm sao mà đẻ được!
Em bé bỗng tươi tỉnh:
– Thế sao làng chúng con lại có lệnh trên bắt nuôi ba con trâu đực cho đẻ thành chín con để nộp đức vua? Giống đực thì làm sao mà đẻ được kia chứ!
Vua cười bảo:
– Ta thử đấy thôi mà! Thế làng chúng mày không biết đem trâu ấy ra thịt mà ăn với nhau à?
– Tâu đức vua, làng chúng con sau khi nhận được trâu và gạo nếp, biết là lộc của đức vua, cho nên đã làm cỗ ăn mừng với nhau rồi.
Vua và đình thần chịu chú bé là thông minh lỗi lạc. Nhưng vua vẫn còn muốn thử một lần nữa. Qua hôm sau, khi hai cha con đang ăn cơm ở nhà công quán, bỗng có sứ nhà vua mang tới cho một con chim sẻ, với lệnh bắt họ phải dọn thành ba cỗ thức ăn. Em bé bảo cha lấy cho mình một cái kim may rồi đưa cho sứ giả, bảo:
– Phiền ông cầm lấy cái này về tâu đức vua xin rèn cho tôi thành một con dao để xẻ thịt chim.
Vua nghe nói, từ đó mới phục hẳn.
Lập tức, vua cho gọi cả hai cha con vào, ban thưởng rất hậu.
Hồi đó, có một nước láng giềng lăm le muốn chiếm bờ cõi nước ta. Để dò xem bên này có nhân tài hay không, họ sai sứ đưa sang một cái vỏ con ốc vặn rất dài, rỗng hai đầu, yêu cầu xâu một sợi chỉ mảnh xuyên qua đường ruột ốc.
Sau khi nghe sứ thần trình bày mục đích cuộc đi sứ, vua quan nhìn nhau. Không trả lời được câu đó oái oăm ấy tức là tỏ ra thua kém và thừa nhận sự thần phục của mình đối với nước láng giềng. Các đại thần đều vò đầu suy nghĩ. Có người dùng miệng hút. Có người bôi sáp vào sợi chỉ cho cứng để cho dễ xâu, v.v… Nhưng tất cả mọi cách đều vô hiệu, bao nhiêu ông Trạng và các nhà thông thái triệu vào đều lắc đầu bó tay. Cuối cùng, triều đình đành mời sứ thần ra ở công quán để có thì giờ đi hỏi ý kiến em bé thông minh nọ.
Khi một viên quan mang dụ chỉ của vua đến thì em còn đùa nghịch ở sau nhà. Và khi nghe nói xâu chỉ vào vỏ ốc, em bé hát lên một câu:
Rồi bảo:
– Cứ theo cách đó là xâu được ngay!
Viên quan sung sướng, lật đật trở về tâu vua. Vua và các quan triều thần nghe nói thì mừng lắm. Quả nhiên, con kiến càng đã xâu được sợi chỉ xuyên qua đường ruột ốc trước con mắt thán phục của sứ giả nước láng giềng.
Rồi đó, vua phong cho em bé làm Trạng nguyên. Vua lại sai xây dinh thự ở một bên hoàng cung cho em ở, để tiện hỏi han.
Ý NGHĨA TRUYỆN CỔ TÍCH “EM BÉ THÔNG MINH”
Truyện cổ tích “Em bé thông minh” là một trong những truyện dân gian Việt Nam tiêu biểu ca ngợi trí tuệ, sự nhanh trí và bản lĩnh của người lao động bình dân, đồng thời thể hiện ước mơ, khát vọng của nhân dân về công bằng, về việc trọng dụng hiền tài. Thông qua hình tượng một em bé xuất thân nghèo khó nhưng vô cùng thông minh, truyện gửi gắm nhiều bài học sâu sắc về trí tuệ, cách ứng xử và giá trị con người trong xã hội.
1. Ca ngợi trí thông minh, óc sáng tạo của con người Việt Nam
Trước hết, truyện đề cao trí thông minh tự nhiên, linh hoạt và sáng tạo của con người, đặc biệt là của người dân lao động. Em bé trong truyện không học cao, không xuất thân quyền quý, nhưng lại sở hữu một trí óc nhanh nhạy, biết suy luận logic và phản biện sắc sảo.
Ngay từ lần đầu xuất hiện, em đã khiến viên quan phải kinh ngạc khi dùng chính câu hỏi ngược lại để đáp lại câu đố oái oăm. Ở những thử thách sau, từ việc “nuôi trâu đực đẻ con”, “làm ba mâm cỗ từ chim sẻ”, cho đến việc “xâu chỉ qua ruột ốc”, em bé đều không trả lời một cách máy móc mà tìm ra cách giải quyết thông minh, độc đáo, hợp lý, khiến đối phương tâm phục khẩu phục.
Qua đó, truyện khẳng định rằng trí tuệ không phụ thuộc vào tuổi tác hay địa vị, mà nằm ở khả năng quan sát, suy nghĩ và ứng biến linh hoạt của mỗi con người.
2. Thể hiện ước mơ về công bằng xã hội và trọng dụng hiền tài
Một ý nghĩa quan trọng khác của truyện là ước mơ muôn đời của nhân dân về một xã hội công bằng, nơi người tài được phát hiện, trân trọng và sử dụng đúng chỗ. Trong truyện, dù em bé chỉ là con nhà nông nghèo, vua vẫn chịu thử thách, lắng nghe và cuối cùng phong cho em làm Trạng nguyên.
Chi tiết này phản ánh niềm mong mỏi của nhân dân rằng người có tài, có đức thì dù xuất thân thấp kém vẫn xứng đáng được trọng dụng, còn quyền lực không nên chỉ nằm trong tay tầng lớp quý tộc hay quan lại. Đây cũng là cách nhân dân gửi gắm niềm tin vào sự sáng suốt của người đứng đầu đất nước.
3. Phê phán sự quan liêu, máy móc và những thử thách phi lý
Thông qua các câu đố oái oăm của viên quan và nhà vua, truyện còn mang ý nghĩa phê phán nhẹ nhàng những tư duy quan liêu, áp đặt và phi lý. Những mệnh lệnh như “nuôi trâu đực đẻ con” hay “làm ba cỗ thức ăn từ một con chim sẻ” là những yêu cầu vô lý, thể hiện sự thử thách mang tính áp bức đối với dân làng.
Tuy nhiên, thay vì đối đầu bằng sức mạnh, em bé đã dùng trí tuệ và lập luận logic để vạch ra cái phi lý, khiến người ra lệnh tự nhận ra sai lầm của mình. Điều này thể hiện quan niệm dân gian: trí tuệ có thể chiến thắng quyền lực, sự thông minh có thể hóa giải bất công.
4. Khẳng định trí tuệ là sức mạnh bảo vệ đất nước
Ở phần cuối truyện, khi nước láng giềng dùng câu đố để thử thách và dò xét nước ta, em bé đã giúp triều đình vượt qua thử thách, giữ được thể diện quốc gia. Qua đó, truyện nhấn mạnh rằng trí tuệ không chỉ giúp con người vượt qua khó khăn cá nhân mà còn là vũ khí bảo vệ độc lập, danh dự của dân tộc.
Hình ảnh con kiến nhỏ bé xâu được sợi chỉ qua ruột ốc chính là biểu tượng cho sức mạnh của trí thông minh: nhỏ bé nhưng hiệu quả, giản dị mà sâu sắc.
5. Bài học rút ra từ truyện
Từ truyện cổ tích “Em bé thông minh”, người đọc có thể rút ra nhiều bài học quý giá:
-
Cần rèn luyện trí tuệ, óc quan sát và tư duy linh hoạt trong cuộc sống.
-
Không nên sợ hãi trước quyền lực hay thử thách, mà phải bình tĩnh, suy nghĩ sáng suốt để tìm cách giải quyết.
-
Xã hội muốn phát triển cần biết phát hiện và trân trọng nhân tài, không phân biệt giàu nghèo, xuất thân.
-
Trí tuệ và sự khéo léo luôn là vũ khí mạnh mẽ hơn sức mạnh bạo lực.
6. Giá trị bền vững của truyện cổ tích
Dù đã ra đời từ rất lâu, truyện “Em bé thông minh” vẫn giữ nguyên giá trị cho đến ngày nay. Truyện không chỉ mang tính giải trí mà còn là bài học đạo đức, bài học về tư duy và cách sống, giúp người đọc – đặc biệt là trẻ em – thêm yêu trí tuệ, tin vào bản thân và nuôi dưỡng khát vọng vươn lên.
Tóm lại, truyện cổ tích “Em bé thông minh” là bản ca ngợi trí tuệ dân gian Việt Nam, đề cao giá trị con người và gửi gắm niềm tin rằng sự thông minh, công bằng và chính nghĩa cuối cùng sẽ chiến thắng.
Truyện Cổ Tích: Em Bé Thông Minh
Truyện Cổ Tích Việt Nam

Nhận xét
Đăng nhận xét