NGỌN ĐÈN KHÔNG TẮT
Truyện Ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Người ta gửi tới nhà Tư Lai một lá thơ. Thơ đề "Kính gởi ông Hai Tương". Cả nhà bối rối không ít. Ông Hai Tương đã ra người thiên cổ lâu rồi, thấy có người nhắc lại chồng, bà cụ Hai Tương nhớ quá ứa nước mắt. Khui lá thơ ra, thì ra là thơ mời nói chuyện khởi nghĩa.
Con Tươi ngồi chắt nước cơm ngoài sau bếp than trong bụng: "Mấy chuyện đó kể muốn thuộc lòng rồi, bắt kể hoài, bộ mấy ổng hổng chán sao".
Cái khởi nghĩa đó xảy ra đã lâu lắm rồi. Dân xứ này có người nhớ, người không. Cái người không nhớ thì cũng nhớ được hai ngày. Ngày thứ nhất là ngày giỗ chung những người khởi nghĩa bị giặc bắn ngoài chợ. Ngày thứ hai là cái ngày kỷ niệm khởi nghĩa. Xã tưng bừng dựng cờ đỏ chói, chạy xuồng máy rước mấy cụ lão thành lại đằng chỗ ủy ban ngồi uống nước trà, ôn lại chuyện cũ. Những chuyện mà các cụ cất vô trong tim, trong máu, buổi sáng nhớ, buổi chiều nhớ, buổi tối cũng nhớ. Ông cụ Hai Tương - nội con Tươi - cũng được mời hoài. Dạo ông cụ già yếu, Tươi được đặc phái đi theo chăm sóc ông nên không khí hội họp nó biết chút đỉnh, chuyện mà cái hội họp nói, Tươi cũng thuộc lòng. Nói chung là không có gì mới. Con Tươi ngồi kế ông nội, có khi nó nhắc:
- Còn chuyện nội với thầy lên Hòn bắn chim bằng nạng thun đó nội.
Ông nội nó đang nói, gật gù:
- Ờ, đúng là tôi còn quên cái chuyện - nội nói - với thầy xách nạng thun lên Hòn bắn chim.
Tươi hài lòng, chành miệng ra cười, thấy mình quan trọng hẳn lên. Quan trọng ngay cả trong cuộc khởi nghĩa đã diễn ra mấy chục năm trước.
Hồi còn sống, ông nội thương con Tươi nhất. Tươi cũng thương ông nội, quấn quít bên ông. Công việc của nó là nấu cơm, chở nước, quét dọn nhà cửa. Thời gian rảnh ngồi nghe ông nội kể chuyện xưa, nghe bà nội kể chuyện còn xưa hơn nữa. Thằng Sáng suốt ngày chạy nhảy, ăn chực ở nhà hàng xóm trề môi như đưa đò:
- Ông nội khó thấy mồ.
Tươi không nghĩ ông nội khó, nhưng ông nội hơi lạ lùng. Ông nội dắt Tươi ra biển đứng sục chân trong bùn, nghe nước biển lấp liếm đầu gối, nội chỉ hướng Hòn.
- Bây coi kìa, Hòn đó.
- Dạ, xa quá hen nội.
- Bây ơi - nội đột nhiên nghẹn ngào - tao nhớ Hòn quá.
Tươi an ủi:
- Thì bữa nào nội biểu ba lấy ghe chở nội đi. Mà phải con lội hay con lội cõng nội ra ngoài. Gần thí mồ chớ gì, nội.
Vậy mà Hòn xa lắm. Có đi mới biết trời rộng, biển rộng mênh mông. Người ta đứng một chỗ nào đó nhìn bầu trời nhỏ xíu, cái Hòn nhỏ xíu, xanh mù mù rồi thấy mình cũng không cần đi đâu, không cần làm gì nữa, thế giới có bi nhiêu đây thôi mà. Tươi rút ra một chân lý, nó nói với nội:
- Cô con dạy "đi một ngày đàng, học một sàng khôn" là vậy đó nội.
Má Tươi bảo: "Con Tươi đi theo ông nội riết nó... khùng". Nó không khùng nhưng nó già trước tuổi, nó già theo những câu chuyện xưa. Ông nội ngộ lắm. Ông nói cho nó biết sở dĩ bùn xứ nó mặn là vì có rất nhiều xương máu của chú, bác, cô, dì đã đổ xuống, trong đó đương nhiên là có máu của thầy, của mấy anh em khởi nghĩa. Ông nói cho nó biết sống làm sao như cây đước thẳng tuột ưỡn ngực giữa sình lầy và còn nhóc chuyện nữa. Tươi cảm thấy mình phải có nhiệm vụ ghi nhớ những gì mà ông nội nói. Vì ba má nó lo làm ăn không có ở đây để nghe, vì thằng Sáng không muốn nghe. Rồi một bữa khác, ông nội nó ra bãi ngồi tới chạng vạng không chịu vô nhà. Ngồi coi biển đục ngầu, ngồi coi mặt trời lặn. Tươi năn nỉ ông vô nhà để ở ngoài này gió máy cảm chết. Ông nội nó không chịu vô, vò đầu nó than:
- Tao thương thầy quá. Nhớ thầy quá. Tao thèm gặp thầy, gặp anh em.
Ðâu ngờ cái lần nội nói đó, nội đi gặp thầy thiệt. Xóm Rạch vắng một người già cỗi cằn ngồi hát sử hận, mấy ông làm phim, viết sử tiếc đứt ruột ông già sống qua những tháng năm biến động và nhứt là đã trải qua cuộc khởi nghĩa trên Hòn. Con Tươi qua sông, chở nước ngọt về uống trượt chân té xuống sình. Té nhẹ phau mà không hiểu vì sao nó dầm mình vậy, nó khóc mướt.
Vậy mà kỷ niệm năm nào người ta cũng gởi thơ mời ông Hai. Không hiểu người ta vô tình quên rằng ông đã khuất hay cố ý nhớ đã từng có một con người như thế trên cõi đời này. Năm rồi thì ông Tư Lai đi thay, năm nay thơ tới trễ ông Tư đi biển ngày họp không về kịp. Cán bộ xã đút mũi xuồng lại rước. Bà cụ Hai rầu rĩ như mình đã ruồng rẫy, phũ phàng ai vậy, chép miệng than:
- Thiệt rầu hết sức, nhà tui tưởng còn ai đi kể chuyện khởi nghĩa. Hổng ấy cho con Tươi đi, chịu hôn?
- Nó nhỏ xíu hà biết không?
- Nó tuổi con gà gần hai chục rồi, nó lanh lắm.
- Thôi kệ, đi đại đi.
Vậy là lần đầu tiên Tươi một mình đi kể chuyện. Ðò chạy một mạch lên huyện, nó ngồi kế bên ông chú Chín bạn của ông nội, nghe ông chú Chín bệu bạo kể kỷ niệm hồi xưa với ông nội, những kỷ niệm tưởng đã đầy rêu, Tươi nhớ nội quá. Nội bây giờ chắc bay ra Hòn gặp thầy, gặp các bạn của nội. Họ lại cùng nhau uống trà, leo núi, đẽo nạng thun bắn chim. Họ lại lên rẫy Thuồng Luồng cuốc đất trồng khoai lang, khoai rạng. Họ không bao giờ già. Họ không bao giờ mệt. Họ không bao giờ mất. Nên người ta tổ chức họp để nhắc họ hoài hoài.
Nghe nói lần này có người trên tỉnh xuống viết sử, Tươi cũng nghe hồi hộp lắm. Nó sợ mình kể không hay bằng ông nội, thiếu những chuyện quan trọng mà người ta cần. Ông nội để lại cho nó một trọng trách nặng nề. Nó vừa đưa tay vịn tấm cao-su che nước mặn khỏi tạt vào mặt, vừa suy nghĩ lung lắm. Nó nhìn đăm đắm ra sông Lớn, những con sóng chạy rượt nhau mê mải tới bạc mái đầu. Có con sóng nào trẻ không mà lượn nào cũng trắng.
Tới cuối buổi họp thì cô gái nhỏ xíu trẻ măng ngồi cuối bàn đằng này được phát biểu: Cũng tại cô ngồi khuất sau cây phát tài nhựa nên khó thấy cô. Cô có nước da đen giòn miền biển, đôi mắt mở lớn bẽn lẽn:
- Dạ, con xin nói thêm về khởi nghĩa đó.
- Ủa, cô có tham gia hả?
- Dạ, ông nội con.
- Dà, sao cô biết?
- Dạ...
Cô gái miết tay lên cạnh bàn có vẻ bối rối. Có nhiều người ngồi quanh đây cô không quen.
- Dạ, ông nội con kể, ông nội con là ông Hai Tương. Nội con còn viết tuồng Sử hận nữa, mấy chú có nghe hát tuồng đó chưa?
- Ờ, Bác Hai Tương tôi thương lắm nghen. Ổng kể chuyện mê ly mà chính xác lắm. Còn tuồng thì nghe nói thôi, thiệt thì chưa.
- Con hát nghen?
- Thôi đừng hát, kể sử đi.
- Dạ thưa ông bác Ba, ông bác Chín, thưa mấy chú, con nói hơi dài được không?
Ông chủ tọa coi đồng hồ cười:
- Bây giờ cũng còn sớm. Chuyện của cô dài cỡ bao nhiêu? Cô mà kể hay, tới chiều tôi cũng nghe.
- Dạ - cô đằng hắng - Thầy được Ðảng phân công về xóm Rạch năm một ngàn...
Ðó là câu chuyện của cô, của ông nội cô, của những người xóm Rạch. Họ kể chuyện đó bao nhiêu lần rồi? Các nhà viết sử nghe bao nhiêu lần rồi? Nhiều lắm, nhiều không kể được. Cô gái nói lời của ba cô năm trước, nói lời của ông nội cô năm trước, năm trước nữa. Cô nói lời của lịch sử. Mà lịch sử là thứ không thay đổi. Nhưng trong lời của cô có cái nhiệt tình tuổi trẻ, trong mắt cô có mầu đen sẫm của vốc đất bãi bùn, và cô dựng xương thịt cho cuộc khởi nghĩa bằng nét mềm mại của người con gái nên câu chuyện của cô rất sâu sắc và thu hút người khác.
- Mấy chú coi con kể có sai chỗ nào không?
- À, không, hay lắm, rất hay. Cô học tới lớp mấy?
- Dạ, lớp 9, xã con dạy tới bao nhiêu đó thôi.
- Cô tên gì nhỉ?
- Dạ Tươi. Ông nội con tên Tương, ba con là Lai, hai chị em con là Tươi, Sáng.
- Tên cũng hay lắm. Tươi có biết thầy không?
- Biết. Con thương thầy như nội con vậy.
- Tôi ngạc nhiên đó. Cuộc khởi nghĩa với cô cực kỳ mơ hồ vậy mà cô nói chuyện như thể đã từng sống với thầy vậy. Thầy rất đẹp phải không?
- Dạ, bà nội con nói thầy đẹp trai lắm. Con trai xóm Rạch bây giờ không ai bằng. Thầy là đàn ông mà thầy còn biết thêu.
- Thêu à? Ôi chuyện đó tôi chưa nghe nói bao giờ, mấy chú có nghe không?
- Không.
- Có.
- Ờ hình như có.
- Tôi gặp ông nội cô ba lần, chưa lần nào ổng kể tôi nghe. Tại sao cô biết?
- Bà nội con kể. Bà nội con là đàn bà nên mới nhớ lâu chuyện đó. Bà nội con đã có lần thêu chung áo gối với thầy.
- Chung à? Thêu gì?
- Uyên ương. Chú có coi Tô ánh Nguyệt không? Trong đó có hát vầy nè: "Uyên ương có bạn có đôi...", cái áo gối đó tới giờ bà nội con vẫn còn giữ, nó hơi cũ. Nhưng ông nội con nói tội nghiệp bà nội bây, uyên ương gãy cánh giữa trời dông...
- Cháu làm chúng tôi xúc động đây. Thôi cháu kể sử tiếp. Tới đoạn đêm khởi nghĩa.
- Dạ nội con nói sau khi giết xong chúa đảo (đêm đó trăng sáng như ban ngày), bắt hai má con cô Ðầm xuống bãi, thầy biểu mấy chú, à không mấy ông chú giữ đèn hải đăng cho nó đừng tắt. Và khi chiếc tàu chạy vào xóm Rạch rồi, ngọn hải đăng vẫn với nhìn theo cháy hoài, cháy hoài, cháy hoài...
<HẾT>
GIỚI THIỆU TRUYỆN NGẮN “NGỌN ĐÈN KHÔNG TẮT” – NGUYỄN NGỌC TƯ
Truyện ngắn “Ngọn đèn không tắt” của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư là một tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam đương đại, viết về lịch sử và con người vùng sông nước Nam Bộ bằng giọng điệu sâu lắng, giàu cảm xúc. Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976 tại Cà Mau, là một cây bút nổi bật với phong cách văn chương mộc mạc, chân thật nhưng đầy chất thơ. Những tác phẩm của bà thường khai thác cuộc sống đời thường của người dân miền Tây, từ đó gửi gắm những suy tư về con người, ký ức và số phận. Trong dòng sáng tác ấy, Ngọn đèn không tắt mang một sắc thái riêng khi đặt con người vào mối quan hệ với lịch sử và ký ức cộng đồng.
Câu chuyện xoay quanh nhân vật Tươi – một cô gái trẻ ở xóm Rạch, cháu nội của ông Hai Tương, người từng tham gia một cuộc khởi nghĩa trong quá khứ. Ông nội đã mất, nhưng mỗi năm địa phương vẫn gửi thư mời ông lên kể lại chuyện khởi nghĩa trong các buổi họp kỷ niệm. Vì ông không còn, Tươi được cử đi thay, trở thành người kể lại lịch sử mà mình chỉ biết qua lời ông bà kể. Tại buổi họp, Tươi kể về ông nội, về “thầy”, về những người đã tham gia khởi nghĩa, về những kỷ niệm nhỏ bé nhưng đầy xúc động. Qua lời kể của cô gái trẻ, lịch sử không còn khô khan mà trở nên sống động, gần gũi và thấm đẫm tình cảm gia đình, tình yêu quê hương.
Nhan đề “Ngọn đèn không tắt” mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Ngọn đèn hải đăng trong truyện được giữ cháy suốt đêm để dẫn đường cho tàu trong đêm khởi nghĩa, nhưng hơn thế, nó tượng trưng cho ánh sáng của lý tưởng cách mạng, cho ký ức lịch sử và cho ngọn lửa tinh thần không bao giờ tắt trong lòng con người. Ngọn đèn ấy là hình ảnh của niềm tin, của sự hi sinh và của trách nhiệm gìn giữ truyền thống của các thế hệ sau.
Nhân vật Tươi là hình ảnh đại diện cho thế hệ trẻ sinh ra sau chiến tranh, không trực tiếp trải qua những biến cố lịch sử nhưng mang trong mình ký ức được truyền lại. Cô yêu thương ông nội, lắng nghe và ghi nhớ những câu chuyện ông kể, coi đó như một phần của cuộc sống mình. Khi đứng trước mọi người để kể lại lịch sử, Tươi vừa bối rối vừa tự hào, cảm nhận được trách nhiệm lớn lao mà ông nội để lại. Qua nhân vật này, tác giả thể hiện sự tiếp nối giữa các thế hệ, khẳng định rằng lịch sử chỉ thật sự sống khi có người nhớ và kể lại.
Bên cạnh đó, hình ảnh ông Hai Tương và những người tham gia khởi nghĩa hiện lên như biểu tượng của thế hệ cha ông anh dũng nhưng rất đỗi bình dị. Họ vừa chiến đấu, vừa sống cuộc đời thường với những kỷ niệm giản dị như bắn chim, leo núi, thêu thùa, uống trà… Chính những chi tiết đời thường ấy làm cho lịch sử trở nên gần gũi, nhân văn và giàu cảm xúc hơn, không chỉ là những trang sử khô cứng mà là câu chuyện của con người bằng xương bằng thịt.
Về nội dung, truyện ngắn Ngọn đèn không tắt ca ngợi truyền thống cách mạng và lòng yêu nước của nhân dân vùng sông nước Nam Bộ, đồng thời khẳng định vai trò của ký ức và lịch sử trong đời sống con người. Tác phẩm cũng gợi lên trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc tiếp nhận, gìn giữ và truyền lại những giá trị của quá khứ, để ngọn lửa truyền thống không bị lãng quên theo thời gian.
Về nghệ thuật, truyện được kể bằng giọng văn nhẹ nhàng, giàu chất trữ tình, đậm chất Nam Bộ. Ngôn ngữ mộc mạc, tự nhiên, mang hơi thở của đời sống miền sông nước, tạo nên không khí rất riêng cho tác phẩm. Hình ảnh ngọn đèn, biển cả, bùn đất, con sóng… được sử dụng như những biểu tượng giàu sức gợi, vừa tả thực không gian vừa mang ý nghĩa triết lý sâu sắc về con người và lịch sử.
Nhìn chung, Ngọn đèn không tắt là một truyện ngắn giàu giá trị nhân văn, thể hiện cách nhìn sâu sắc của Nguyễn Ngọc Tư về lịch sử và con người. Qua câu chuyện của Tươi và ký ức về ông nội, tác giả nhắn nhủ rằng lịch sử không chỉ nằm trong sách vở mà còn sống trong ký ức, trong lời kể và trong trái tim mỗi con người. Ngọn đèn của quá khứ cần được thế hệ hôm nay và mai sau gìn giữ để ánh sáng ấy không bao giờ tắt.
Ngọn Đèn Không Tắt - Truyện Ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Chương Trình Ngữ Văn Lớp 10, Tập 2 - Bộ Kết Nối Tri Thức Với Cuộc Sống.
Soạn Bài: Mẫu Đơn.

Nhận xét
Đăng nhận xét