Cây Diêm Cuối Cùng (Trích Chuyện Trò) - Cao Huy Thuần

CÂY DIÊM CUỐI CÙNG

(Trích Chuyện trò)

Cao Huy Thuần

Trang 60, 61, 62, 63 - Ngữ Văn Lớp 11, Tập 2 - Bộ Kết Nối Tri Thức Với Cuộc Sống.


     Câu chuyện chiến tranh mà tôi sắp kể ra đây xảy ra trên một đỉnh núi cao của dãy Hy Mã Lạp Sơn cách đây gần nửa thế kỉ. Phe tôi và phe địch chạm trán nhau trên một dãy núi non mà biên giới cũng vô định như mây trên trời. 

     Chúng tôi năm người đi tuần lúc mờ sáng, chạm phải địch, hai bên nổ súng, địch đông hơn, chúng tôi tháo lui. Ý định của chúng tôi là đánh cầm chừng, dụ địch vào sâu phía bên này biên giới. 

     Chúng tôi vờn nhau như vậy trong lúc trời vần vũ, gió thổi mạnh. Một lúc sau, bão tuyết cuồng nộ nổi lên, tuyết mù mịt, không còn biết đâu là phương hướng. Chúng tôi lạc nhau, mỗi người gió thổi cuốn đi một ngả. Tôi bám vào núi mà đi, một hồi đầu óc xoay vù, không còn biết mình đi đâu. Bão càng lúc càng dữ dội, tôi mệt ngất, bước không nổi nữa, ôm núi, trốn gió, tuyết quất như roi vào mặt. Gió thổi như muốn bật núi. Lạnh xuống dữ dội. Lạnh tưởng chừng như cả người tôi hoá đá. Tôi ôm núi như vậy suốt ngày và suốt ngày cứ nghĩ là mình sẽ buông rã tay ra, bay như bông tuyết giữa hư không. 

     Đến chiều, tuyết hơi ngớt, gió bớt mạnh. Tôi lần mò bò quanh núi tìm một hốc đá khuất gió để nương thân. Bò mãi, đến khi kiệt sức, bỗng cái gì như một mái nhà hiện ra trước mắt, lờ mờ trong tuyết. Không! Một mái chùa! Một vách chùa đá dựng lưng vào núi! Mệt lả người, tôi lăn ra nằm trên nền chùa, đầu như quay trong gió lốc, thân thể cứng đờ như đã ướp lạnh, giác quan tê liệt, mắt chẳng thấy gì ngoài một màn trắng mênh mông. Tôi nằm mê man như vậy không biết đến bao lâu, khi tỉnh dậy thì trời đã chợt tối. 

     Lúc đó tôi mới bắt đầu run, run vì lạnh, vì đói, vì mệt và chắc cũng vì sốt, vì tôi có cảm tưởng rằng tôi đang sốt. Tôi nhìn chung quanh. Chùa nhỏ như chỉ một người tu, trống trơn, không một bức tượng. Không bàn thờ, không chuông mõ, không chỗ ngả lưng. Chỉ thấy lù mù trong góc vách một bóng ai đang ngồi. Tôi giật mình nhìn kĩ, và ớn lạnh xương sống khi thấy người kia đang chĩa súng vào tôi. Cùng lúc mắt đã quen với bóng tối, tôi nhận ra binh phục của anh ta, và biết rằng mình đang đối mặt với kẻ thù. Tôi ngồi đờ ra như vậy nhìn người trước mặt. Anh ta vẫn hờm súng trong thế đe doạ, nhìn tôi. Qua giây phút kinh hãi lúc đầu, tôi dần dần bình tĩnh, nhận xét tình thế. Có thể là tôi lạc biên giới, rơi vào một vị trí do địch canh gác. Cũng có thể là chính anh ta lạc biên giới, rơi vào đất của tôi. Mà cũng có thể chẳng ai lạc vào biên giới của ai, cả hai đều bị bão tuyết thổi tốc vào ngôi chùa hoang này. Tôi thì chắc chắn đang ở trong thế yếu vì đang ngồi trước họng súng của người kia. Nhưng chắc gì anh ta đã ở trong thế mạnh hoàn toàn, biết đâu anh ta chẳng hoang mang, ngỡ mình rơi vào đất hiểm! Trong tư thế hờm súng của anh ta, tôi nhận thấy một cử chỉ phòng thủ, không phải tấn công, và ý nghĩ đó làm tôi vững dạ. Dẫu sao, anh ta và tôi vẫn đang có một kẻ thù chung: đêm lạnh băng, và nếu không đuổi được kẻ thù đó, cả hai có thể chết cóng trong đêm. Sống khác nhau, cả hai có thể chết giống nhau. 

     Tôi lấy lại được niềm tin. Cẩn thận, canh chừng, tỉnh táo, tôi đứng dậy, đi từng bước, tìm những thứ gì có thể đốt lên một bếp lửa. May quá, tôi tìm được một tấm ván mục, một cái gáo dừa, một đôi dép nát, một gốc cây to và cả một con dao để bửa củi. Trong lúc tôi lần mò tìm kiếm, họng súng vẫn không rời tôi. 

     Tôi chẻ ván, chất củi, loay hoay dựng một bếp lửa. Dựng xong, tôi mới sực nhớ rằng tôi đã để cái bật lửa trong hành trang của tôi, và tất cả hành trang, kể cả súng, tôi đã đánh rơi trong bão tuyết. Sự thất vọng mang cơn sốt trả về cho tôi. Hai tay tôi run, đầu óc choáng váng. Bất ngờ, người kia móc túi, ném cho tôi bao diêm nhỏ, trong lúc tay kia vẫn hờm súng. Tôi lượm bao diêm, liếc nhìn anh ta, chờ đợi một động tĩnh, nhưng tuyệt nhiên không có gì khác, họng súng vẫn đe doạ. 

     Tôi tìm cách mồi lửa, nhưng không có một mảnh giấy, một cọng rơm. Tôi chẻ củi ra từng cọng nhỏ, bật diêm, nhưng tay tôi run quá, củi không đủ khô, diêm tắt. Tôi thử lần thứ hai, củi vẫn không bén lửa. Lần thứ ba, tay tôi run hơn, lại thất bại. Nghe tiếng người kia cựa mình, tôi nhìn qua, thấy anh ta loay hoay móc túi, rút ra một mảnh giấy ném cho tôi. Giấy không bay đến gần, tôi phải mon men đến phía anh ta để lượm. Họng súng theo dõi tôi, tôi cầm mảnh giấy, mở ra, chữ viết lạ, nhưng chắc chắn là một bài thơ, tôi còn biết là một bài thơ chưa làm xong, bởi vì đoạn cuối còn thiếu một câu. Tôi liếc nhìn người kia như để nói với anh ta rằng tôi biết đó là bài thơ, và biết anh ta là thi sĩ. Tôi tưởng cái nhìn của tôi sẽ làm dịu bớt căng thẳng, nhưng không, trước mắt tôi họng súng vẫn không rời. Tôi châm lửa, và lần này cây diêm không cháy! Tôi moi bao diêm: chỉ còn độc một cây! Tính mạng của tôi tuỳ thuộc vào cây diêm độc nhất còn lại. Lạnh xuống càng lúc càng khủng khiếp, và cơn sốt làm tôi run toàn thân. 

     Với hai bàn tay run, tôi toan bật cây diêm cuối cùng, thì vụt như chớp người kia nhảy đến bên cạnh tôi, nắm tay tôi, giật bao diêm. Bị phản ứng bất ngờ, tôi hoảng hốt, không kịp suy tính gì, vớ lấy cây dao, hoa lên. Vừa lúc đó, mắt tôi bỗng thấy cả một vầng trăng sáng hiện ra từ bao giờ ngoài khung cửa. Bão lặng lúc nào tôi không hay. Tuyết hết rơi, trăng sáng vằng vặc. Trăng trên núi cao gần như chỉ cần đưa tay là vớ được, gần như mọc ngay trên mái chùa, gần như một khuôn mặt nhân hậu, gần như một nụ cười bao dung. Tự nhiên tôi ngừng tay, đứng sững. Người kia bẻ quặt tay tôi, giật con dao ném xuống đất. Tôi đứng sững. Và tôi đứng sững nhìn anh ta bật que diêm, châm lửa vào bài thơ, lửa cháy! 

     Tôi có thể chấm dứt câu chuyện ở đây vì lửa cháy và tôi đã sống. Nhưng lửa đã cháy từ lúc nào? Dĩ nhiên từ lúc diêm bén lửa. Nhưng tôi vẫn thường suy nghĩ hoài về một ngọn lửa khác đã cháy lên trước đó và đó chính là cây diêm đầu tiên. Tại sao người kia không thí cho tôi một phát súng ngay khi tôi đột nhập vào chùa? Cái gì đã làm cho anh ta không bắn tôi trong suốt thời gian tôi ngất lịm trên nền đá? Cái gì đã khiến cho tôi chùn tay lại khi con dao đã vung lên? Phải chăng đó là ánh trăng loé hào quang trên con dao? Nhưng tại sao trong cái giây phút bức bách đó, mắt tôi còn nhận ra được vầng trăng tròn nhân hậu trên mái chùa, vầng trăng quen thuộc như khuôn mặt của mẹ tôi? Tôi cứ suy nghĩ hoài về những câu hỏi đó, vì phải chăng lửa đã có sẵn từ lâu, từ muôn thuở trong tim tôi, trong tim của mọi người? Tôi muốn chấm dứt câu chuyện ở đây là vì thế: là vì tôi không muốn động đến những vấn đề siêu hình làm tôi suy nghĩ suốt đời. Tôi muốn chấm dứt câu chuyện với sự thật đơn giản trước mắt: lửa đã cháy và sự sống đã đến với tôi từ trong lòng bàn tay của người mà tôi gọi là kẻ thù. 

     Thế nhưng... tôi sẽ kể tiếp để câu chuyện khỏi dang dở. Lửa cháy, lửa bùng lên, và hình như tôi có reo lên một tiếng sung sướng. Nhưng tiếng reo sung sướng chưa dứt thì tôi đã thét lên kinh ngạc: người kia bỗng nằm quỵ bên bếp lửa. Tôi trố mắt nhận ra máu loang đỏ một vùng. Tôi bước tới, ôm anh ta trong tay, cởi áo, áo dẫm máu. Anh ta chết trong tay tôi. Tôi ôm anh ta trong tay như vậy, bất động, cho đến khi bếp lửa bắt đầu tàn. Và tôi suy nghĩ miên man. Như vậy là anh ta đã bị thương, đã may mắn tìm được chỗ trú ẩn trong chùa, đã xé áo tự băng vết thương cho đỡ rướm máu... Nếu anh ta ngồi yên một chỗ, nếu anh ta không nhảy vụt đến cứu cây diêm cuối cùng đang run rẩy trong tay tôi, có thể vết thương đã thôi chảy máu chăng? Đã đành anh ta cũng cần bếp lửa để sống qua đêm, nhưng dù sao đi nữa thì cũng có một người đã chết để một người được sống, và có bếp lửa không biết phân biệt kẻ thù. Tôi tần ngần moi túi áo anh ta ra, không thấy có gì khác, chỉ có một bài thơ, chắc là bài thơ ban nãy, nhưng đã hoàn chỉnh vì không thiếu câu nào. 

     Sáng sớm hôm sau, tôi tìm về đơn vị và tiếp tục chiến đấu như một chiến sĩ. Tôi là chiến sĩ có huy chương cao nhất, trong các trận đánh sau đó. Nhưng ngay khi hết chiến tranh, tôi cởi áo giáp, một mình leo lên núi trong hai năm liền để xây lại ngôi chùa hoang. Tôi xây chùa không cốt để thờ Phật vì tôi biết Phật đã ở đâu trong tôi ngay từ đêm tôi sống trong chùa hoang. Tôi xây chùa để biết đâu, mười, hai mươi, một trăm năm nữa, sau một trận đánh nhau, hai kẻ thù bị thương, kiệt sức, có chỗ trốn bão tuyết trong giây lát, cứu nhau và cứu chất người trong nhau. Trong chùa tôi vẫn không đặt tượng và chuông mõ. Chỉ thờ có một bài vị: đó là bài thơ của anh bạn đã chết trong tay tôi. Bài thơ mà tôi không cần dịch ra để hiểu. Bởi vì, với một con người thi sĩ như vậy, bài thơ nào của anh chắc chắn cũng có ánh lửa của cây diêm cuối cùng. 

               (Cao Huy Thuần, Chuyện trò, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2012, tr. 129 − 135)


Giới thiệu tác giả Cao Huy Thuần

Cao Huy Thuần là một học giả, nhà nghiên cứu và cây bút nghị luận – tùy bút giàu chiều sâu triết lí của văn học Việt Nam đương đại. Ông sinh năm 1937, quê ở Huế – vùng đất nổi tiếng với truyền thống văn hóa, học thuật và đời sống tinh thần phong phú. Trong suốt nhiều năm, ông hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học chính trị và giảng dạy ở nước ngoài, đồng thời viết nhiều tác phẩm bàn về văn hóa, triết học, tôn giáo và những vấn đề nhân sinh.

Văn phong của Cao Huy Thuần mang đậm chất suy tưởng, nhẹ nhàng mà sâu sắc, thường hướng đến những câu hỏi lớn về con người, chiến tranh, hòa bình, lòng nhân ái và bản chất của cái thiện. Ông không viết để lên án gay gắt hay khẳng định chân lí tuyệt đối, mà thường mở ra những khoảng lặng suy tư, để người đọc tự chiêm nghiệm và đối thoại với chính mình. Tác phẩm của ông dung hòa giữa trí tuệ và cảm xúc, giữa lí trí và lòng trắc ẩn.

Tập sách Chuyện trò (NXB Trẻ, 2012) là một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông, tập hợp những câu chuyện, những suy ngẫm mang tính triết lí sâu xa nhưng được kể bằng giọng văn giản dị, giàu chất nhân văn. Đoạn trích “Cây diêm cuối cùng” là một câu chuyện tiêu biểu thể hiện rõ phong cách ấy.


Giới thiệu tác phẩm “Cây diêm cuối cùng”

(Trích Chuyện trò)

“Cây diêm cuối cùng” là một truyện ngắn giàu tính biểu tượng, kể về một sự kiện xảy ra gần nửa thế kỉ trước trên dãy núi Hy Mã Lạp Sơn – nơi biên giới mơ hồ như mây trời. Trong bối cảnh chiến tranh khốc liệt, nhân vật “tôi” – một người lính – bị lạc trong cơn bão tuyết dữ dội và trú vào một ngôi chùa hoang. Tại đây, anh đối mặt với một người lính thuộc phe địch, cũng đang lạc đường và mang thương tích.

Hai con người ở hai chiến tuyến, giữa hoàn cảnh sinh tử, đã rơi vào tình thế căng thẳng: họ chĩa súng vào nhau, nghi kị nhau, nhưng đồng thời lại có chung một kẻ thù lớn hơn – cái lạnh và cái chết. Trong nỗ lực nhóm lửa để sống sót, người lính “tôi” được kẻ thù ném cho bao diêm. Khi chỉ còn lại một cây diêm cuối cùng – cơ hội sống duy nhất – người lính đối phương đã lao tới giật lấy và tự tay châm lửa, cứu cả hai. Nhưng cũng chính hành động đó khiến vết thương của anh tái phát, máu chảy nhiều hơn và anh gục chết bên bếp lửa.

Câu chuyện không dừng lại ở sự sống – cái chết đơn thuần. Nó mở ra những suy tư sâu xa:

  • Vì sao người lính kia không bắn khi có cơ hội?

  • Vì sao nhân vật “tôi” chùn tay khi định vung dao?

  • Phải chăng ánh trăng nhân hậu trên mái chùa đã làm dịu đi hận thù?

  • Hay trong tim mỗi con người vốn đã có sẵn một “ngọn lửa” của tình người?

Sau chiến tranh, nhân vật “tôi” trở thành chiến sĩ lập nhiều chiến công. Nhưng khi hòa bình lập lại, anh từ bỏ áo giáp, trở lại ngọn núi xưa, xây lại ngôi chùa hoang như một biểu tượng của lòng biết ơn và sự thức tỉnh. Trong chùa không thờ tượng Phật, không chuông mõ, chỉ có một bài vị: bài thơ của người lính đã chết – bài thơ mang “ánh lửa của cây diêm cuối cùng”.


Giá trị nội dung

  1. Khẳng định sức mạnh của tình người vượt lên hận thù chiến tranh
    Tác phẩm cho thấy: giữa ranh giới sống – chết, giữa kẻ thù – đồng minh, bản chất con người vẫn có thể chiến thắng bạo lực. Người lính đối phương đã không bắn, đã cho diêm, đã châm lửa – nghĩa là đã chọn cứu người thay vì giết người.

  2. Chiến tranh không thể hủy diệt hoàn toàn nhân tính
    Dù là chiến sĩ, dù đang trong hoàn cảnh đối đầu, cả hai vẫn nhận ra nhau như những con người trước khi là kẻ thù. Họ cùng chung một nỗi sợ lạnh, sợ chết – “sống khác nhau, cả hai có thể chết giống nhau”.

  3. Biểu tượng giàu ý nghĩa

    • Cây diêm cuối cùng: biểu tượng của hi vọng, của sự sống, của lòng nhân ái mong manh nhưng mạnh mẽ.

    • Ánh trăng trên mái chùa: biểu tượng của sự bao dung, của lương tri soi sáng.

    • Ngôi chùa hoang: không gian tâm linh, nơi con người đối diện với chính mình.

    • Bài thơ: biểu tượng của tâm hồn thi sĩ, của phần “người” không bị chiến tranh làm tắt lịm.

  4. Thông điệp nhân văn sâu sắc
    Tác phẩm gửi gắm niềm tin rằng: trong trái tim con người luôn có sẵn một “ngọn lửa” của lòng từ bi. Khi được khơi dậy, nó có thể làm tan băng giá của hận thù.


Giá trị nghệ thuật

  • Ngôi kể thứ nhất giúp câu chuyện chân thực, giàu cảm xúc và tăng chiều sâu suy tưởng.

  • Xây dựng tình huống truyện độc đáo: hai kẻ thù cùng trú ẩn trong chùa hoang giữa bão tuyết, tạo nên cao trào tâm lí căng thẳng.

  • Yếu tố biểu tượng đậm đặc, mang màu sắc triết lí.

  • Giọng văn chậm rãi, suy tư, đan xen giữa kể chuyện và triết luận, đặc trưng phong cách Cao Huy Thuần.


Kết luận

“Cây diêm cuối cùng” không chỉ là một câu chuyện về chiến tranh, mà còn là một bản suy tưởng về bản chất con người. Qua hình ảnh cây diêm nhỏ bé mà kì diệu, Cao Huy Thuần đã khẳng định: lửa của lòng nhân ái có thể bùng lên ngay trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất. Câu chuyện để lại dư âm sâu lắng, khiến người đọc tin rằng: giữa bóng tối của hận thù, chỉ cần một đốm lửa nhỏ của tình người cũng đủ soi sáng cả đêm dài.


Cây Diêm Cuối Cùng (Trích Chuyện Trò) - Cao Huy Thuần

Trang 60, 61, 62, 63 - Ngữ Văn Lớp 11, Tập 2 - Bộ Kết Nối Tri Thức Với Cuộc Sống.

Soạn Bài: Mẫu Đơn

Nhận xét

Tìm Danh Mục Liên Quan

Hiện thêm