Xuất Chinh 出征

XUẤT CHINH 出征

(Trích: Chinh phụ ngâm khúc 征婦吟曲)

Tác giả: Đặng Trần Côn
Dịch thơ: Đoàn Thị Điểm

Nguyên văn chữ Hán

出征
渭橋頭清水溝
清水邊青草途
送君處兮心悠悠
君登途兮妾恨不如駒
君臨流兮妾恨不如舟
清清有流水
不洗妾心愁
青青有芳草
不忘妾心憂
語復語兮執君手
步一步兮牽君襦
妾心隨君似明月
君心萬里千山箭
擲離杯兮舞龍泉
橫征槊兮指虎穴
云隨介子獵樓蘭
笑向蠻溪談馬援
君穿壯服紅如霞
君騎驍馬白如雪
驍馬兮鸞鈴
征鼓兮人行
須臾中兮對面
頃刻裡兮分程
分程兮河梁
徘徊兮路旁
路旁一望兮旆央央
前車兮北細柳
後騎兮西長楊
騎車相擁君臨塞
楊柳那知妾斷腸
去去落梅聲漸遠
行行征旆色何忙
望雲去兮郎別妾
望山歸兮妾思郎
郎去程兮濛雨外
妾歸處兮昨夜房
歸去兩回顧
云青兮山蒼
郎顧妾兮咸陽
妾顧郎兮瀟湘
瀟湘煙阻咸陽樹
咸陽樹隔瀟湘江
相顧不相見
青青陌上桑
陌上桑陌上桑
妾意君心誰短長


Phiên âm Hán – Việt

Xuất chinh

Vị kiều đầu thanh thủy câu
Thanh thủy biên thanh thảo đồ
Tống quân xứ hề tâm du du
Quân đăng đồ hề thiếp hận bất như câu
Quân lâm lưu hề thiếp hận bất như chu
Thanh thanh hữu lưu thủy
Bất tẩy thiếp tâm sầu
Thanh thanh hữu phương thảo
Bất vong thiếp tâm ưu
Ngữ phục ngữ hề chấp quân thủ
Bộ nhất bộ hề khiên quân nhu
Thiếp tâm tùy quân tự minh nguyệt
Quân tâm vạn lý thiên sơn tiễn
Trịch li bôi hề vũ Long Tuyền
Hoành chinh sóc hề chỉ hổ huyệt
Vân tùy Giới Tử liệp Lâu Lan
Tiếu hướng Man Khê đàm Mã Viện
Quân xuyên tráng phục hồng như hà
Quân kỵ kiêu mã bạch như tuyết
Kiêu mã hề loan linh
Chinh cổ hề nhân hành
Tu du trung hề đối diện
Khoảnh khắc lý hề phân trình
Phân trình hề hà lương
Bồi hồi hề lộ bàng
Lộ bàng nhất vọng hề phất ương ương
Tiền xa hề Bắc Tế Liễu
Hậu kỵ hề Tây Tràng Dương
Kỵ xa tương ủng quân lâm tái
Dương liễu na tri thiếp đoạn trường
Khứ khứ lạc mai thanh tiệm viễn
Hành hành chinh phất sắc hà mang
Vọng vân khứ hề lang biệt thiếp
Vọng sơn quy hề thiếp tư lang
Lang khứ trình hề mông vũ ngoại
Thiếp quy xứ hề tạc dạ phòng
Quy khứ lưỡng hồi cố
Vân thanh hề sơn thương
Lang cố thiếp hề Hàm Dương
Thiếp cố lang hề Tiêu Tương
Tiêu Tương yên trở Hàm Dương thụ
Hàm Dương thụ cách Tiêu Tương giang
Tương cố bất tương kiến
Thanh thanh mạch thượng tang
Mạch thượng tang, mạch thượng tang
Thiếp ý quân tâm thùy đoản trường


Dịch thơ – Đoàn Thị Điểm

Ngòi đầu cầu nước trong như lọc,
Đường bên cầu cỏ mọc còn non.
Đưa chàng lòng dặc dặc buồn,
Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền.
Nước có chảy mà phiền khôn rửa,
Cỏ có thơm mà dạ chẳng khuây.
Nhủ rồi tay lại cầm tay,
Bước đi một bước giây giây lại dừng.
Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi,
Dạ chàng xa tìm cõi Thiên Sơn.
Múa gươm rượu tiễn chưa tàn,
Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo.
Săn Lâu Lan rằng theo Giới Tử,
Tới Man Khê bàn sự Phục Ba.
Áo chàng đỏ tựa ráng pha,
Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in.
Tiếng nhạc ngựa lẫn chen tiếng trống,
Giáp mặt rồi phút bỗng chia tay.
Hà lương chia rẽ đường này,
Bên đường trông lá cờ bay ngùi ngùi.
Quân trước đã gần ngoài doanh Liễu,
Kỵ sau còn khuất nẻo Tràng Dương.
Quân đưa chàng ruổi lên đường,
Dương liễu biết thiếp đoạn trường này chăng?
Dấu chàng theo lớp mây đưa,
Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà.
Chàng thì đi cõi xa mưa gió,
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn.
Đoái trông theo đã cách ngăn,
Tuôn màu mây biếc trải ngần núi xanh.
Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại,
Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang.
Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương,
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy,
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.
Ngàn dâu xanh ngắt một màu,
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?


Giới thiệu đoạn thơ Xuất chinh trong Chinh phụ ngâm khúc

Chinh phụ ngâm khúc là kiệt tác tiêu biểu của văn học trung đại Việt Nam, phản ánh sâu sắc nỗi đau tinh thần của người phụ nữ có chồng ra trận trong xã hội phong kiến. Tác phẩm nguyên viết bằng chữ Hán, theo thể ngâm, sau đó được chuyển dịch sang chữ Nôm với bản dịch thơ nổi tiếng của Đoàn Thị Điểm, trở thành một trong những bản dịch đạt đến trình độ mẫu mực của văn học dân tộc.

Đoạn Xuất chinh nằm ở phần mở đầu của tác phẩm, tái hiện cảnh người chồng lên đường ra trận và cuộc tiễn đưa đầy nước mắt của người vợ trẻ. Đây là khoảnh khắc chia ly đầu tiên, nhưng lại mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng: nó đặt nền móng cảm xúc cho toàn bộ bi kịch tinh thần của người chinh phụ về sau. Không chỉ là sự xa cách về không gian, cuộc chia ly này còn là sự rạn vỡ âm thầm giữa hạnh phúc lứa đôi và lý tưởng công danh, giữa khát vọng cá nhân và guồng máy chiến tranh phi nghĩa của thời đại.


Không gian chia ly thấm đẫm nỗi buồn ly biệt

Ngay từ những câu thơ mở đầu, cảnh tiễn đưa hiện lên trong một không gian khoáng đạt mà vắng lặng:

Vị kiều đầu thanh thủy câu
Thanh thủy biên thanh thảo đồ

Hình ảnh cây cầu, dòng nước, bãi cỏ xanh tưởng như êm đềm, trong trẻo, nhưng chính sự tĩnh lặng ấy lại làm nổi bật nỗi buồn chia biệt. Cảnh vật không hề dữ dội, không bi thương kịch liệt, mà mang vẻ đẹp thanh sơ, gợi cảm giác trôi chảy, xa dần – đúng với tâm thế của một cuộc tiễn đưa không hẹn ngày về.

Thiên nhiên trong đoạn thơ không chỉ là phông nền mà còn là tấm gương phản chiếu tâm trạng người chinh phụ. Dòng nước chảy mãi mà không rửa được nỗi sầu, cỏ xanh thơm ngát mà không làm vơi đi nỗi nhớ – tất cả đều trở thành những ẩn dụ tinh tế cho nỗi đau âm thầm, dai dẳng của người ở lại.


Bi kịch tâm lý của người chinh phụ trong giờ phút tiễn đưa

Trung tâm cảm xúc của đoạn Xuất chinh là hình ảnh người chinh phụ – người vợ tiễn chồng ra trận trong nỗi giằng xé khôn nguôi. Nàng so sánh mình với ngựa, với thuyền, với dòng nước, với cỏ cây, nhưng tất cả đều bất lực trước nỗi sầu ly biệt:

Quân đăng đồ hề thiếp hận bất như câu
Quân lâm lưu hề thiếp hận bất như chu

Những so sánh ấy vừa thể hiện sự nhỏ bé, yếu đuối của người phụ nữ, vừa bộc lộ khát vọng được đồng hành, được sẻ chia. Nỗi đau của chinh phụ không bộc phát dữ dội mà lặng lẽ, dồn nén, thấm sâu vào từng cử chỉ: nắm tay không rời, bước đi rồi lại dừng, nói rồi lại nói.

Đó là bi kịch tinh thần rất con người: yêu tha thiết nhưng bất lực trước hoàn cảnh; muốn níu giữ nhưng không thể chống lại dòng chảy của chiến tranh và bổn phận phong kiến.


Hình tượng người chinh phu và sự đối lập cảm xúc

Trái ngược với nỗi sầu của người vợ là hình ảnh người chinh phu lên đường trong hào khí chiến trận:

Hoành chinh sóc hề chỉ hổ huyệt
Vân tùy Giới Tử liệp Lâu Lan

Người ra đi hiện lên trong trang phục rực rỡ, cưỡi ngựa trắng, gươm giáo sáng loáng, gắn với những điển tích anh hùng và chiến công lẫy lừng. Đây là hình ảnh mang tính ước lệ của lý tưởng nam nhi thời phong kiến – ra đi vì công danh, sự nghiệp, vì danh tiếng nơi sa trường.

Chính sự tương phản này càng làm nổi bật bi kịch: một bên là hào quang lý tưởng, một bên là nỗi đau rất thật của tình yêu và hạnh phúc lứa đôi. Người chinh phu dường như bước vào lịch sử, còn người chinh phụ ở lại với đời sống tinh thần cô độc và dài đằng đẵng.


Cao trào chia ly và dư âm kéo dài của nỗi nhớ

Cảnh chia tay đạt đến cao trào khi “đối diện rồi phút chốc phân trình”. Chỉ trong khoảnh khắc ngắn ngủi, hai người đã bị không gian chia cắt bởi cầu Hà Lương, bởi cờ xí, xe ngựa, doanh trại. Hình ảnh “dương liễu” – biểu tượng truyền thống của biệt ly – xuất hiện như một chứng nhân câm lặng cho nỗi đoạn trường của người ở lại.

Cuộc chia ly không kết thúc ở giây phút tiễn đưa mà kéo dài trong những cái ngoái nhìn cuối cùng: chàng nhìn về Hàm Dương, thiếp trông về Tiêu Tương. Khoảng cách địa lý được mở rộng thành khoảng cách tâm trạng, để rồi kết lại bằng hình ảnh “ngàn dâu xanh ngắt” – biểu tượng cho sự xa cách mênh mông, vô tận.


Đoạn Xuất chinh là một trong những đoạn thơ đặc sắc nhất của Chinh phụ ngâm khúc. Bằng nghệ thuật tả cảnh ngụ tình tinh tế, ngôn ngữ giàu nhạc tính, hình ảnh mang tính biểu tượng cao và chiều sâu tâm lý hiếm có, đoạn thơ đã khắc họa thành công bi kịch tinh thần của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

Không chỉ là tiếng khóc của riêng người chinh phụ, Xuất chinh còn là lời tố cáo kín đáo đối với chiến tranh phi nghĩa và chế độ đã đặt công danh, binh đao lên trên hạnh phúc con người. Giá trị nhân đạo sâu sắc ấy đã giúp đoạn thơ nói riêng và Chinh phụ ngâm khúc nói chung vượt qua giới hạn thời đại để sống lâu bền trong lòng người đọc.


XUẤT CHINH 出征

(Trích: Chinh phụ ngâm khúc 征婦吟曲)

Tác giả: Đặng Trần Côn
Dịch thơ: Đoàn Thị Điểm

Nhận xét

Tìm Danh Mục Liên Quan

Hiện thêm