Bi cụ 悲懼 • (Nhớ mong)
(Trích: Chinh phụ ngâm khúc 征婦吟曲)
Nguyên văn chữ Hán
悲懼
自從別後風沙隴
明月知君何處宿
古來征戰場
萬里無人屋
風熬熬兮打得人顏憔
水深深兮怯得馬蹄縮
戍夫枕鼓臥龍沙
戰士抱鞍眠虎陸
今朝漢下白登城
明日胡窺青海曲
青海曲青山高復低
青山前青溪斷復續
青山上雪蒙頭
青溪下水沒腹
可憐多少鐵衣人
思歸當此愁顏蹙
錦帳君王知也無
艱難誰為畫征夫
料想良人經歷處
蕭關角瀚海隅
霜村雨店
虎落蛇區
風餐露宿
雪脛冰鬚
登高望雲色
安復不生愁
自從別後東南徼
東南知君戰何道
古來征戰人
性命輕如草
鋒刃下溫溫挾纊主恩深
時刻中歷歷橫戈壯士夭
祈山舊塚月茫茫
淝水新墳風裊裊
風裊裊空吹死士魂
月茫茫曾照征夫貌
征夫貌兮誰丹青
死士魂兮誰哀弔
可憐爭鬪舊江山
行人過此情多少
古來征戰幾人還
班超歸時鬢已斑
料想良人馳騁外
三尺劍一戎鞍
秋風沙草
明月關山
馬頭鳴鏑
城上緣竿
功名百忙裏
勞苦未應閒
Phiên âm Hán – Việt
Bi cụ
Tự tòng biệt hậu phong sa lũng
Minh nguyệt tri quân hà xứ túc
Cổ lai chinh chiến trường
75. Vạn lý vô nhân ốc
Phong ngao ngao hề đả đắc nhân nhan tiều
Thuỷ thâm thâm hề khiếp đắc mã đề súc
Thú phu chẩm cổ ngoạ Long sa
Chiến sĩ bão yên miên hổ lục
80. Kim triêu Hán há Bạch Đăng thành
Minh nhật Hồ khuy Thanh Hải khúc
Thanh Hải khúc thanh sơn cao phục đê
Thanh sơn tiền thanh khê đoạn phục tục
Thanh sơn thượng tuyết mông đầu
85. Thanh khê hạ thuỷ một phúc
Khả liên đa thiểu thiết y nhân
Tư quy đương thử sầu nhan xúc
Cẩm trướng quân vương tri dã vô
Gian nan thuỳ vị hoạ chinh phu
90. Liệu tưởng lương nhân kinh lịch xứ
Tiêu Quan giác hãn hải ngung.
Sương thôn vũ điếm
Hổ lạc xà khu
Phong xan lộ túc
95. Tuyết hĩnh băng tu
Đăng cao vọng vân sắc
An phục bất sinh sầu
Tự tòng biệt hậu đông nam kiếu
Đông nam tri quân chiến hà đạo
100. Cổ lai chinh chiến nhân
Tính mệnh khinh như thảo
Phong nhận hạ ôn ôn hiệp khoáng chủ ân thâm
Thời khắc trung lịch lịch hoành qua tráng sĩ yểu
Kỳ sơn cựu trủng nguyệt mang mang
105. Phì thuỷ tân phần phong niểu niểu
Phong niểu niểu không xuy tử sĩ hồn
Nguyệt mang mang tằng chiếu chinh phu mạo
Chinh phu mạo hề thuỳ đan thanh
Tử sĩ hồn hề thuỳ ai điếu
110. Khả liên tranh đấu cựu giang sơn
Hành nhân quá thử tình đa thiểu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hoàn
Ban Siêu quy thời mấn dĩ ban
Liệu tưởng lương nhân trì sính ngoại
115. Tam xích kiếm nhất nhung yên
Thu phong sa thảo
Minh nguyệt quan sơn
Mã đầu minh đích
Thành thượng duyên can
120. Công danh bách mang lý
Lao khổ vị ưng nhàn
Bản dịch thơ của Đoàn Thị Điểm
65. Chàng từ đi vào nơi gió cát,
Đêm trăng này nghỉ mắt phương nao?
Xưa nay chiến địa dường bao,
Nội không muôn dặm xiết sao dãi dầu.
Hơi gió lạnh người rầu mặt dạn,
70. Dòng nước sâu ngựa nản chân bon.
Ôm yên gối trống đã chồn.
Nằm vùng cát trắng ngủ cồn rêu xanh.
Nay Hán xuống Bạch Thành đóng lại,
Mai Hồ vào Thanh Hải dòm qua.
75. Hình khe thế núi gần xa,
Đứt thôi lại nối thấp đà lại cao.
Sương đầu núi buổi chiều như gội,
Nước lòng khe nẻo lội còn sâu.
Não người áo giáp bấy lâu,
80. Lòng quê qua đó mặt sầu chẳng khuây.
Trên trướng gấm thấu hay chăng nhẽ,
Mặt chinh phu ai vẽ cho nên?
Tưởng chàng rong ruổi mấy niên,
Chẳng nơi hãn hải thì miền Tiêu Quan.
85. Đã trắc trở đòi ngàn xà hổ,
Lại lạnh lùng những chỗ sương phong.
Lên cao trông thức mây lồng,
Lòng nào là chẳng động lòng bi thương?
Chàng từ chốn đông nam khơi nẻo,
90. Biết nay chàng tiến thảo nơi đâu.
Những người chinh chiến bấy lâu,
Nhẹ xem tính mệnh như màu cỏ cây.
Nức hơi mạnh ân dày từ trước,
Trải chốn nghèo tuổi được bao nhiêu.
95. Non Kỳ quạnh quẽ trăng treo,
Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò.
Hồn tử sĩ gió ù ù thổi,
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi.
Chinh phu tử sĩ mấy người,
100. Nào ai mạc mặt nào ai gọi hồn?
Dấu binh lửa nước non như cũ,
Kẻ hành nhân qua đó chạnh thương.
Phận trai già ruổi chiến trường,
Chàng Siêu tóc đã điểm sương mới về.
105. Tưởng chàng trải nhiều bề nắng nỏ,
Ba thước gươm một cỗ nhung yên.
Xông pha gió bãi trăng ngàn,
Tên reo đầu ngựa giáo dan mặt thành.
Áng công danh trăm đường rộn rã,
110. Những nhọc nhằn nào đã nghỉ ngơi.
Bi cụ 悲懼 • (Nhớ mong)
(Trích: Chinh phụ ngâm khúc 征婦吟曲)
Đoạn “Bi cụ” (悲懼) trích Chinh phụ ngâm khúc là một trong những phần giàu cảm xúc và ám ảnh nhất của kiệt tác văn học trung đại này. Chinh phụ ngâm khúc do Đặng Trần Côn sáng tác bằng chữ Hán trong bối cảnh xã hội phong kiến nhiều biến động, chiến tranh liên miên, con người bị cuốn vào vòng xoáy binh đao khốc liệt. Bản diễn Nôm của Đoàn Thị Điểm không chỉ chuyển tải trung thành nội dung nguyên tác mà còn nâng tầm tác phẩm, khiến tiếng nói bi thương của người chinh phụ trở nên gần gũi, thấm thía với tâm hồn người Việt.
“Bi cụ” – nghĩa là buồn đau và lo sợ – tập trung khắc họa nỗi nhớ mong triền miên cùng sự lo âu khắc khoải của người vợ có chồng ra trận. Từ khi chia biệt, không gian trong cảm nhận của chinh phụ chỉ còn là những miền gió cát mịt mù, quan san trùng điệp, nơi sự sống và cái chết luôn kề cận. Dưới ánh trăng vốn là biểu tượng của đoàn viên, nàng không ngắm trăng để vui mà nhìn trăng để hỏi: đêm nay chàng nghỉ lại nơi đâu, còn bình yên hay đã gặp hiểm nguy. Chính sự mơ hồ, vô định ấy đã khiến nỗi nhớ hóa thành nỗi sợ, nỗi thương hóa thành dày vò không dứt.
Qua dòng tưởng tượng của người chinh phụ, bức tranh chiến trường hiện lên khắc nghiệt và lạnh lẽo. Gió buốt làm tiều tụy gương mặt người lính, nước sâu khiến vó ngựa chùn lại, đêm đến chỉ có yên ngựa, trống canh và cát trắng làm bạn. Con người hiện ra bé nhỏ, lẻ loi giữa thiên nhiên dữ dội và cuộc chinh chiến không cùng. Những hình ảnh ấy không chỉ cho thấy gian lao của người chinh phu mà còn phản chiếu nỗi đau trong lòng người ở lại: mỗi bước chân của chồng nơi chiến địa đều là một lần trái tim nàng thắt lại.
Nỗi lo sợ trong “Bi cụ” không dừng ở nỗi nhớ riêng tư mà mở rộng thành ám ảnh sinh tử. Chiến tranh hiện lên như một cỗ máy tàn nhẫn, nơi sinh mạng con người bị xem nhẹ như cỏ rác. Những gò mả cũ ở non Kỳ, những nấm mồ mới bên bến Phì, hồn tử sĩ phảng phất trong gió, bóng chinh phu mờ nhạt dưới trăng… tất cả tạo nên một không gian bi thương đến rợn ngợp. Người chinh phụ đau xót tự hỏi: ai sẽ ghi lại dung mạo người lính, ai sẽ gọi hồn những kẻ đã ngã xuống? Đó không chỉ là câu hỏi cho riêng chồng nàng mà là tiếng kêu thương cho biết bao số phận vô danh bị chôn vùi trong khói lửa chiến tranh.
Bên cạnh nỗi sợ mất mát là nỗi oán thầm lặng đối với chiến tranh phi nghĩa. Công danh, sự nghiệp được vẽ ra rực rỡ nhưng đổi lại là tuổi xuân, máu xương và hạnh phúc lứa đôi. Người chinh phụ hình dung chồng mình rong ruổi nơi biên tái với ba thước gươm, cỗ nhung yên, sống giữa gió cát, trăng núi và tiếng tên reo đầu ngựa, mà công danh thì còn xa vời, gian lao thì chưa lúc nào ngơi nghỉ. Qua đó, tác phẩm kín đáo bộc lộ thái độ phê phán sâu sắc đối với chiến tranh phong kiến – thứ đã đẩy con người vào cảnh chia lìa, chết chóc và cô độc.
Giá trị nghệ thuật của đoạn “Bi cụ” thể hiện nổi bật ở bút pháp tả cảnh ngụ tình tinh tế. Thiên nhiên trong đoạn thơ không chỉ là phông nền mà mang tâm trạng, góp phần khắc sâu nỗi buồn, nỗi sợ của con người. Ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhịp điệu chậm buồn, dồn nén đã tạo nên âm hưởng bi thiết kéo dài. Bản dịch thơ của Đoàn Thị Điểm với thể song thất lục bát mềm mại, giàu nhạc tính đã diễn tả trọn vẹn nỗi lòng người chinh phụ, khiến đoạn thơ vừa trang trọng vừa gần gũi, dễ đi vào lòng người đọc.
Có thể nói, “Bi cụ” không chỉ là khúc ngâm buồn của một người vợ nhớ chồng mà còn là bản bi ca thấm đẫm tinh thần nhân đạo. Qua nỗi nhớ mong và lo sợ của người chinh phụ, tác phẩm bày tỏ niềm cảm thương sâu sắc đối với thân phận con người trong chiến tranh, đồng thời gửi gắm khát vọng thầm kín về hạnh phúc, sum vầy và hòa bình. Chính chiều sâu cảm xúc và giá trị nhân văn ấy đã làm nên sức sống lâu bền của đoạn thơ nói riêng và Chinh phụ ngâm khúc nói chung trong nền văn học dân tộc.
Bi cụ 悲懼 • (Nhớ mong)
(Trích: Chinh phụ ngâm khúc 征婦吟曲)

Nhận xét
Đăng nhận xét