Đọc Văn Bản: Văn Học Việt Nam Từ Khu Vực Ra Thế Giới, Từ Truyền Thống Đến Hiện Đại - Trần Đình Sử

Đọc Văn Bản: Văn học Việt Nam từ khu vực ra thế giới, từ truyền thống đến hiện đại

Trần Đình Sử

Trang 117, 118, 119, 120 Ngữ Văn Lớp 9, Tập 2 - Kết Nối Tri Thức Với Cuộc Sống.


        Văn học Việt Nam là một nền văn học vừa cổ xưa vừa non trẻ và đang hội nhập với thế giới hiện đại.

        Nói cổ xưa vì văn học Việt Nam gắn với lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt bắt đầu từ thời kì các Vua Hùng, gắn với văn học dân gian truyền miệng vốn có vị trí rất quan trọng, nó lưu giữ tinh thần, trí tuệ, ngôn ngữ và là nền tảng của văn học viết của người Việt qua bao nhiêu biến cố lịch sử truyền lại cho thời hôm nay.

        Nói là non trẻ vì khác với các nền văn học như Ấn Độ, Trung Hoa, Hy Lạp,... là nền văn học “già” có từ “thời gian trục” trước Công nguyên, văn học viết Việt Nam mới xuất hiện từ thế kỉ X sau khi giành lại độc lập từ các triều đại Trung Hoa.

        Văn học viết Việt Nam bắt đầu với thứ văn tự ngoại lai là chữ Hán. Sự xâm chiếm của nhà Tần năm 214 trước Công nguyên và sau đó của nhà Hán năm 111 trước Công nguyên làm gián đoạn sự hình thành “văn tự sơ khai không theo hình thức mẫu Hán” của các tộc Choang – Tày – Việt và áp lực chữ Hán khiến người Việt quen với hình thức chữ Hán sau nghìn năm Bắc thuộc, nhưng dưới thời Bắc thuộc người Việt không có văn học viết. Theo sưu tầm của Trần Nghĩa, suốt nghìn năm Bắc thuộc, số bài văn do người Việt viết còn lại vẻn vẹn có 25 văn bản. Phải có một quốc gia độc lập, người Việt trở thành chủ thể thì mới có được văn học của mình. Từ thế kỉ X, khi quốc gia đã giành lại được độc lập, để xây dựng lại nền học vấn, giáo dục, khoa cử và văn học của mình, người Việt đã buộc phải di thực cả một ngôn ngữ, văn tự ngoại lai là chữ Hán, văn ngôn, các thể loại, thậm chí cả phong cách, điển cố, thể thức diễn đạt trong văn bản hành chính và sáng tác văn thơ. Sự mô phỏng, vay mượn là không tránh khỏi. Điều quan trọng là người Việt Nam đã vượt qua sự mô phỏng tầm thường để đạt đến tinh hoa như nguyên mẫu và đi sâu biểu đạt tâm hồn dân tộc mình. Văn học chữ Hán thời Lý – Trần có những thành tựu độc đáo, đến thời Hậu Lê thế kỉ XV − XVII văn học chữ Hán đã phồn vinh. Các tác gia văn học chữ Hán của Việt Nam đương thời đã thấy Hán văn của họ “không nhường Hán Đường” (Ngô Thì Nhậm), và nhà văn Trung Quốc hiện đại đã thấy trong văn học chữ Hán ấy có những “đại bút trác việt”. Văn học chữ Hán Việt Nam là một bộ phận của văn học chữ Hán Đông Á có bản sắc riêng, mang đậm tinh thần Việt Nam.

        Không thể mãi mãi viết bằng chữ Hán, người Việt Nam đã mô phỏng chữ Hán để sáng tạo ra chữ Nôm, thứ chữ thiên về biểu ý và biểu âm, để sáng tác tác phẩm bằng tiếng Việt. Sau những mầm mống từ đầu thế kỉ XII – XIII, đến thế kỉ XV đã có những tác phẩm hoàn chỉnh như Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi (1380 – 1442). Tập thơ này đánh dấu sự hình thành văn học dân tộc bằng tiếng dân tộc. Văn học tiếng Việt hình thành hầu như cùng thời với nhiều nền văn học lớn châu Âu như Anh, Đức, Ý. Từ thế kỉ XVI trở đi đã có cả một dòng văn học tiếng Việt phát triển rầm rộ, đạt đến cực thịnh trong thế kỉ XVIII, cơ hồ lấn át thơ văn chữ Hán. Nó đã sáng tạo ra các thể loại văn học độc lập của riêng người Việt, Việt hóa nhiều thể loại văn học chữ Hán, biến thành tài sản của người Việt. Văn học tiếng Việt đã đạt đến mức nghệ thuật cổ điển, kết tinh trong Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du (1765 – 1820) và sáng tác của nhiều tác gia khác. Văn học chữ Nôm đã giúp cho văn học cổ điển Việt Nam thoát dần các khuôn mẫu Hán, trở về với các truyền thống Đông Nam Á, như các truyện thơ, để trở thành nền văn học độc lập, biểu hiện sâu sắc tâm hồn Việt Nam. Tuy vậy, chữ Nôm là một thứ chữ rất phức tạp, khó phổ biến cho nhiều người vì người học phải biết chữ Hán trước đã rồi thì mới có thể đọc được và viết được chữ Nôm. Sự lệ thuộc vào chữ Hán của thứ chữ này khiến cho nó có thể gây khó cho người sử dụng. Đó là một điều rất bất tiện, chưa nói đến bất tiện trong phiên âm các từ trong tiếng phương Tây và dạy tiếng Việt cho người nước ngoài.

        Văn học Việt Nam đã kết tinh các truyền thống của văn học Đông Á. Văn học Việt Nam chịu ảnh hưởng của Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo lâu đời, đồng thời chịu ảnh hưởng sâu sắc của truyền thống bản địa và khu vực.

        Tuy nhiên, văn học Việt Nam cũng không ở mãi trong cái khung khu vực. Sự tiếp xúc Đông Tây bắt đầu từ các giáo sĩ phương Tây đã tạo ra thứ chữ kiểu La-tinh để ghi âm tiếng Việt, sau này gọi là chữ quốc ngữ. Sự xâm lược của thực dân Pháp, một mặt gây nên những biến động chính trị, xã hội, mặt khác tạo nên sự tiếp xúc của Việt Nam với phương Tây, dấy lên phong trào canh tân theo các tư tưởng tư sản Âu Mỹ. Cuối thế kỉ XIX − đầu thế kỉ XX, khi chữ Hán và các kì thi Hán học bị bãi bỏ, chữ quốc ngữ thịnh hành và cùng với nó, một nền văn học hiện đại theo kiểu châu Âu dần dần xuất hiện. Chữ quốc ngữ rất dễ học, chỉ học một thời gian ngắn là người ta có thể thoát nạn mù chữ mà không cần phải biết một thứ chữ nào trước đó làm tiền đề. Chữ quốc ngữ gắn liền với lời ăn tiếng nói hằng ngày, đoạn tuyệt hẳn với truyền thống văn ngôn khiến cho văn xuôi phát triển. Tuy có làm gián đoạn truyền thống nhưng chữ quốc ngữ mở ra viễn cảnh mới rộng lớn, và sẽ được bù đắp lại bằng phiên dịch và phiên âm. Đến lúc này, người Việt lại bắt đầu di thực các thể loại văn học châu Âu như du kí, phóng sự, kịch nói, tiểu thuyết, truyện ngắn, phê bình, khảo luận, luận văn, xã luận, thơ tự do,... Từ mô phỏng đến sáng tạo là con đường tưởng như rất dài nhưng lại rất ngắn. Với chữ quốc ngữ, văn học Việt Nam đã chịu ảnh hưởng nhiều mặt của văn học phương Tây và đã tự thay đổi mình trong cả tư duy và diễn đạt. Ý thức lô-gíc và lí tính gia tăng rõ rệt ngay trong cấu trúc ngôn ngữ. Hơn nửa thế kỉ, từ 1885 đến 1945, văn học Việt Nam (từ một nền văn học trung đại cổ xưa với truyền thống khu vực) đã hoá thân thành một nền văn học hiện đại theo mô hình châu Âu, trở thành một bộ phận của văn học thế giới.

        Vậy là với sự thay đổi ba thứ chữ viết, văn học Việt Nam đã tự thay đổi vận mệnh của mình, từ chỗ phụ thuộc vào các khuôn mẫu cổ xưa của chữ Hán, chuyển sang bắt đầu tự chủ bằng chữ Nôm, rồi hoà nhịp với thế giới đa dạng, tự do với chữ quốc ngữ. Sự thay đổi này đã thể hiện sức sống mạnh mẽ của văn học Việt Nam.

        Trong lịch sử văn học Việt Nam, văn học thế kỉ XX có vị trí và ý nghĩa đặc biệt, đồng thời trải qua con đường quanh co do mấy cuộc chiến tranh tạo nên. Từ đầu thế kỉ XX đến 1945, ở Việt Nam hình thành một nền văn học hiện đại thực thụ và đã chớm có khuynh hướng hiện đại chủ nghĩa. Từ ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa, văn học thiên về phục vụ công cuộc chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc. Sau năm 1954, đất nước chia làm hai miền, văn học miền Bắc vẫn đi vào con đường văn học vô sản, xã hội chủ nghĩa; còn ở miền Nam văn học đi theo ảnh hưởng của văn học Âu Mỹ đương đại. Sau năm 1975, đất nước thống nhất nhưng gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế, khó khăn do chiến tranh biên giới phía tây nam và chiến tranh biên giới phía bắc gây ra. Văn học bộc lộ những yếu kém của chính sách văn nghệ, dẫn đến cuộc đổi mới có tính “cởi trói” cuối năm 1986. Cuối những năm chín mươi của thế kỉ XX sang đầu thế kỉ XXI, sự thâm nhập của in-tơ-nét cùng với sự kiện Việt Nam gia nhập WTO (2007), văn học có những đổi thay mới, vừa duy trì chủ nghĩa hiện thực vừa có dấu hiệu hiện đại chủ nghĩa và hậu hiện đại.

        Với vị trí chính trị đặc biệt, Việt Nam đã phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh, văn học Việt Nam trước sau đều mang âm hưởng chủ đạo của chủ nghĩa yêu nước và bên cạnh đó là tiếng nói tố cáo sự bất công, oan khuất, chế giễu sự giả dối và tham tàn, thể hiện khát vọng tự do, dân chủ và hạnh phúc. Gần mười thế kỉ, văn học Việt Nam tuy đã có nhiều thành tựu xuất sắc, song hầu như ngưng trệ trong thi pháp trung đại, nhưng từ cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX thi pháp văn học bắt đầu đổi thay căn bản, hoàn toàn lột xác để trở thành một nền văn học mới, hiện đại, nhanh chóng trải qua hầu hết các trào lưu văn học trên thế giới dưới dạng rút gọn và tiếp tục hội nhập sâu rộng vào quá trình văn học thế giới.

(Theo Trần Đình Sử (Chủ biên), Lược sử văn học Việt Nam, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2021, tr. 9 – 13)


I. Giới thiệu tác giả Trần Đình Sử

Trần Đình Sử là một trong những học giả, nhà nghiên cứu và phê bình văn học hàng đầu của Việt Nam trong thời kì hiện đại. Ông có nhiều đóng góp quan trọng trong lĩnh vực lí luận văn học, thi pháp học và nghiên cứu văn học Việt Nam.

  • Ông sinh năm 1940.
  • Là giáo sư, tiến sĩ khoa học, từng giảng dạy tại các trường đại học lớn, đặc biệt là trong lĩnh vực Ngữ văn.
  • Ông được biết đến với tư duy khoa học sâu sắc, cách tiếp cận hiện đại và khả năng hệ thống hóa các vấn đề văn học một cách rõ ràng, logic.

1. Sự nghiệp và đóng góp

Trần Đình Sử có vai trò quan trọng trong việc:

  • Đưa lí luận văn học hiện đại vào nghiên cứu văn học Việt Nam.
  • Phát triển hướng nghiên cứu thi pháp học, giúp người học hiểu sâu hơn về cấu trúc, hình thức và bản chất của tác phẩm văn học.
  • Khái quát hóa tiến trình văn học Việt Nam trong mối quan hệ với khu vực và thế giới.

2. Phong cách nghiên cứu

  • Lập luận chặt chẽ, khoa học.
  • Kết hợp giữa truyền thống và hiện đại.
  • Có tầm nhìn rộng, đặt văn học Việt Nam trong bối cảnh so sánh quốc tế.

3. Tác phẩm tiêu biểu

Ông là chủ biên và tác giả của nhiều công trình quan trọng, trong đó có:

  • Lược sử văn học Việt Nam
  • Các công trình nghiên cứu về thi pháp học, văn học trung đại và hiện đại

→ Nhìn chung, Trần Đình Sử là nhà nghiên cứu có ảnh hưởng lớn, góp phần định hình cách nhìn nhận khoa học về văn học Việt Nam trong thời đại hội nhập.


II. Giới thiệu tác phẩm

“Văn học Việt Nam từ khu vực ra thế giới, từ truyền thống đến hiện đại”

1. Xuất xứ

Văn bản được trích từ cuốn
Lược sử văn học Việt Nam
do Trần Đình Sử chủ biên, xuất bản năm 2021.

Đây là một công trình nghiên cứu mang tính khái quát cao, nhằm trình bày tiến trình phát triển của văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hiện đại, trong mối quan hệ với khu vực và thế giới.


2. Nội dung chính

Văn bản đã trình bày một cách hệ thống và sâu sắc về quá trình vận động của văn học Việt Nam, thể hiện qua các phương diện sau:


a. Văn học Việt Nam – nền văn học vừa cổ xưa vừa non trẻ

  • Cổ xưa: gắn với lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc, bắt nguồn từ thời các Vua Hùng, với nền tảng là văn học dân gian truyền miệng.
  • Non trẻ: văn học viết chỉ thực sự hình thành từ thế kỉ X sau khi giành độc lập.

→ Tác giả nhấn mạnh sự đặc biệt của văn học Việt Nam: lâu đời về truyền thống nhưng muộn về chữ viết.


b. Quá trình phát triển qua ba hệ chữ viết

Một điểm nổi bật của văn học Việt Nam là sự thay đổi qua ba hệ chữ viết lớn:

Chữ Hán

  • Là văn tự ngoại lai nhưng giữ vai trò nền tảng ban đầu.
  • Văn học chữ Hán phát triển mạnh từ thời Lý – Trần đến Hậu Lê.
  • Đạt nhiều thành tựu và mang bản sắc riêng của dân tộc.

Chữ Nôm

  • Do người Việt sáng tạo để ghi âm tiếng Việt.
  • Đánh dấu sự ra đời của văn học dân tộc bằng tiếng mẹ đẻ.
  • Tiêu biểu là Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi và đỉnh cao là Truyện Kiều của Nguyễn Du.
  • Tuy nhiên, chữ Nôm phức tạp, khó phổ biến.

Chữ quốc ngữ

  • Ra đời nhờ sự tiếp xúc với phương Tây.
  • Dễ học, dễ phổ biến, góp phần xóa mù chữ.
  • Mở đường cho sự hình thành văn học hiện đại.

→ Qua ba lần chuyển đổi chữ viết, văn học Việt Nam đã:

  • Từ phụ thuộc → tự chủ → hội nhập quốc tế

c. Quá trình hiện đại hóa và hội nhập

  • Cuối thế kỉ XIX – đầu XX: văn học chuyển sang mô hình châu Âu.
  • Tiếp thu nhiều thể loại mới: tiểu thuyết, kịch, phóng sự, thơ tự do…
  • Tư duy văn học chuyển từ cảm tính sang lí tính, logic.

→ Chỉ trong khoảng nửa thế kỉ (1885–1945), văn học Việt Nam đã:

  • Từ trung đại → hiện đại
  • Từ khu vực → thế giới

d. Văn học thế kỉ XX và những biến động lịch sử

  • Gắn liền với chiến tranh và cách mạng.
  • Chia thành nhiều giai đoạn:
    • Trước 1945: hình thành văn học hiện đại
    • 1945–1975: phục vụ kháng chiến
    • Sau 1975: đổi mới và hội nhập
  • Sau năm 1986 (Đổi mới), văn học có sự “cởi trói”, phát triển đa dạng hơn.
  • Từ cuối thế kỉ XX đến nay: chịu ảnh hưởng của internet, toàn cầu hóa.

e. Nội dung tư tưởng chủ đạo

Văn học Việt Nam mang những đặc điểm nổi bật:

  • Tinh thần yêu nước sâu sắc
  • Phản ánh khát vọng:
    • Tự do
    • Công lí
    • Hạnh phúc
  • Phê phán bất công, cái xấu trong xã hội

3. Nghệ thuật và cách trình bày

  • Lập luận chặt chẽ, logic
  • Sử dụng nhiều dẫn chứng lịch sử cụ thể
  • Cách trình bày mang tính khái quát cao nhưng vẫn rõ ràng
  • Giọng văn khoa học, khách quan

→ Văn bản mang đậm phong cách nghiên cứu của Trần Đình Sử.


4. Ý nghĩa của tác phẩm

Văn bản giúp người đọc:

  • Hiểu rõ nguồn gốc và tiến trình phát triển của văn học Việt Nam
  • Nhận thức được sự vận động từ:
    • Truyền thống → hiện đại
    • Khu vực → toàn cầu
  • Thấy được sức sống mạnh mẽ và khả năng thích nghi của văn học dân tộc

III. Kết luận

“Văn học Việt Nam từ khu vực ra thế giới, từ truyền thống đến hiện đại” là một văn bản mang tính tổng kết sâu sắc, giúp người đọc nhìn lại toàn bộ hành trình phát triển của văn học dân tộc.

Qua bài viết, Trần Đình Sử đã khẳng định:

  • Văn học Việt Nam luôn vận động không ngừng
  • Luôn biết tiếp thu, đổi mới và hội nhập
  • Nhưng vẫn giữ vững bản sắc dân tộc

→ Đây là một văn bản có giá trị lớn cả về tri thức văn họcý nghĩa giáo dục, đặc biệt đối với học sinh trong quá trình học tập và tìm hiểu văn học Việt Nam.


 Đọc Văn Bản: Văn học Việt Nam từ khu vực ra thế giới, từ truyền thống đến hiện đại

Trần Đình Sử

Trang 117, 118, 119, 120 Ngữ Văn Lớp 9, Tập 2 - Kết Nối Tri Thức Với Cuộc Sống.

Soạn Bài: Mẫu Đơn

Nhận xét

Tìm Danh Mục Liên Quan

Hiện thêm